7. Năng lực biểu lộ sự thanh khiết từ lực và ánh sáng chói lọi cần thiết. “Nhà trị liệu phải đạt đến sự thanh khiết từ lực và có được ánh sáng chói lọi xua đuổi”. Điều này bao hàm giới luật cá nhân quan trọng trong đời sống hằng ngày, và thói quen sinh hoạt thanh khiết (pure living). Sự thanh khiết chắc chắn và tự động đưa đến ánh sáng chói lọi.
7. Power to express magnetic purity and the needed radiance. “The healer must achieve magnetic purity…and attain dispelling radiance.” This involves great personal discipline in the daily life, and the habit of pure living. Purity inevitably and automatically results in radiance.
8. Năng lực kiểm soát hoạt động của cơ chế trong đầu. Nhà trị liệu phải đã “liên kết các trung tâm lực trong đầu”. Nhà trị liệu chân chính đã thiết lập một từ trường bên trong đầu y. Từ trường ấy tự thể hiện hay tự biểu lộ qua một bức xạ có thể nhận biết một cách rõ rệt.
8. Power to control the activity of the mechanism of the head. The healer must have “linked the centres in the head.” The true healer has established a magnetic area within his head which presents itself or expresses itself through a definitely recognisable radiation.
9. Năng lực đối với các bí huyệt của chính y. Nhà trị liệu phải “tập trung năng lượng cần có vào trong bí huyệt được cần đến”. Bí huyệt trong người bệnh nhân gần nơi có bệnh nhất phải được làm cho dễ tiếp nhận đối với năng lượng được phóng vào nó bằng bí huyệt tương ứng trong cơ thể nhà trị liệu. Do đó bạn sẽ thấy rõ rằng nhà trị liệu chân chính cần đến biết bao tri thức và khả năng kiểm soát năng lượng.
9. Power over his own centres. The healer has to “concentrate the needed energy within the needed centre.” The centre in the patient's form which is nearest to the seat of the physical trouble has to be made receptive to the energy discharged into it by the corresponding centre in the healer's body. It will be obvious to you, therefore, how much knowledge and energy-control is required by the true healer.
10. Năng lực vận dụng các phương pháp trị liệu cả ngoại môn lẫn nội môn. Nhà trị liệu sẽ dùng những “phương pháp trị liệu theo huyền môn, mặc dầu các phương pháp y học và giải phẫu thông thường sẽ không bị bỏ đi”. Tôi đã luôn luôn nhấn mạnh đến bản chất thiên phú (God-given nature) của y khoa thực nghiệm—vốn là nhóm từ bổ nghĩa cho y khoa ngày nay và bổ nghĩa cho cách chữa trị siêu hình nhiều hơn nữa. Không cần nhờ đến nhà trị liệu tâm linh đối với xương gãy hay đối với các bệnh mà y học chính thống đã biết cách chữa trị. Tuy nhiên, nhuệ khí và tình trạng chung của bệnh nhân có thể được trợ giúp một cách thích đáng, trong khi cuộc giải phẫu sáng suốt và kiến thức y học cải thiện đều được áp dụng. Điều này, nhà trị liệu siêu hình, như thường được gọi, thì thường không biết. Sau rốt, các nhà trị liệu sẽ được phân thành hai nhóm:
10. Power to utilise both the exoteric and esoteric methods of healing. The healer will employ “methods of occult healing though the ordinary medical and surgical methods will not be withheld.” I have constantly emphasised the God-given nature of experimental medicine—which is a phrase qualifying medicine today, and qualifying still more metaphysical healing. There is no need to call in a spiritual healer for broken bones or for those difficulties which orthodox medicine has already mastered. However, the patient's general morale and condition can be justifiably helped whilst wise surgery and ameliorating medical knowledge are applied. This the usual so-called metaphysical healer is apt to ignore. Healers will be divided eventually into two groups: