Để thảo luận, thì cuộc đời của Kẻ Hành Hương có thể được chia thành ba thời kỳ chính :
The life of the Pilgrim can be, for purposes of discussion, divided into three main periods:
1. Thời kỳ mà y chịu ảnh hưởng của Cung Phàm Ngã.
1. That period wherein he is under the influence of the Personality Ray.
2. Thời kỳ mà y bắt đầu chịu ảnh hưởng của Cung Chân ngã.
2. That wherein he comes under the Ray of the Ego.
3. Thời kỳ mà Cung Chân Thần nắm quyền thống trị.
3. That wherein the Monadic Ray holds sway.
Thời kỳ thứ nhất là thời kỳ dài hơn rất nhiều và dài nhất, và bao trùm sự tiến bộ rộng lớn của nhiều thế kỷ, trong đó trạng thái hoạt động của bản ngã tam phân đang được phát triển. Hết kiếp sống này đến kiếp sống khác trôi qua, trong khi đó trạng thái của manas hay thể trí diễn tiến một cách chậm chạp, và con người ngày càng chịu sự kiểm soát của trí tuệ của y, tác động thông qua bộ óc hồng trần của y. Thời kỳ này có thể được xem như là tương ứng với thời kỳ của Thái dương hệ thứ nhất, trong đó trạng thái thứ ba của Thượng Đế, tức trạng thái Brahma, Thiên Trí hay sự Thông Tuệ, đã được mang đến mức độ thành đạt (lxxvi-74) . Khi đó, trạng thái thứ hai đã bắt đầu trong
The first period isby far the longest, and covers the vast progression of the centuries wherein the activity aspect of the threefold self is being developed. Life after life slips away during which the aspect of manas or mind is being slowly wrought out, and the human being comes more and more under the control of his intellect, operating through his physical brain. This might be looked upon as corresponding to the period of the first solar system, wherein the third aspect logoic, that ofBrahma, Mind, or Intelligence, was being brought to the point of achievement. (lxxvi-74) Then the second aspect began in
(lxxvi-74):
Khi chu kỳ cuối cùng có người ở đã được trái đất cuối cùng màu mỡ này hoàn tất, và nhân loại nói chung đã đến giai đoạn của quả vị Phật, và chuyển ra khỏi sự hiện tồn khách quan để tiến vào bí nhiệm của Niết Bàn – lúc bấy giờ “giờ đã điểm”; cái hữu hình trở thành vô hình, cái cụ thể trở lại trạng thái tiền-chu kỳ của sự phân bố nguyên tử của nó.
Nhưng các thế giới chết vốn đã bỏ lại xung lực đang quét qua không tiếp diễn tình trạng chết. Chuyển động là trật tự vĩnh cửu của vạn vật, và ái lực hay sức thu hút là lực hỗ trợ nó trong mọi công việc. Cơn rùng mình của sự sống sẽ lại tái kết hợp nguyên tử, và nó sẽ lại khuấy động trong bầu hành tinh trì trệ khi đến lúc. Mặc dù mọi mãnh lực của nó vẫn ở nguyên trạng và hiện giờ đang hôn thuỵ; tuy nhiên dần dần nó sẽ − khi giờ lại điểm – thu thập cho một chu kỳ mới của thiên chức làm mẹ sinh sản ra con người, và khai sinh ra một điều gì đó còn cao siêu hơn các kiểu mẫu vật chất và đạo đức so với chu kỳ khai nguyên trước đó. Và “các nguyên tử vũ trụ đã ở trong trạng thái được biến phân (trạng thái này khác − trong việc tạo ra lực theo nghĩa cơ học của các chuyển động và tác động) vẫn ở nguyên trạng cũng như các bầu hành tinh và mọi cái khác trong tiến trình tạo lập.” Đó là “giả thuyết hoàn toàn phù hợp với chú giải của con, cũng như của Ta”. Vì, khi sự phát triển hành tinh tiến triển như sự tiến hoá của con người, hoặc của giống dân; tới lúc Chu Kỳ Qui Nguyên sẽ bắt kịp chuỗi các thế giới ở các giai đoạn tiến hoá kế tiếp; (nghĩa là) mỗi thế giới đã đạt đến một trong các thời kỳ tiến hoá nào đó – thì mỗi thế giới sẽ dừng lại ở đó, cho đến khi xung lực hướng ra ngoài của kỳ khai nguyên kế tiếp khởi động nó từ chính điểm đó − giống như đồng hồ ngưng chạy được lên dây trở lại. Vì lẽ đó Ta đã dùng từ ngữ “được biến phân” (“differentiated”).
Đến Chu Kỳ Qui Nguyên, không có thực thể nào thuộc con người, con thú hoặc ngay cả thảo mộc sẽ còn sống để thấy nó, nhưng sẽ có các địa cầu hay các bầu hành tinh với các giới khoáng thạch của chúng; và tất cả các hành tinh này sẽ bị tan rã về mặt thể chất trong kỳ Qui Nguyên, tuy nhiên không bị huỷ diệt; vì chúng vẫn có vị trí của chúng trong trình tự tiến hoá, và “các tài sản riêng” của chúng xuất hiện trở lại từ thế giới chủ quan, và chúng sẽ tìm thấy điểm chính xác mà từ đó chúng phải tiến lên theo chuỗi “các hình tướng được biểu lộ”. Như các bạn đã biết, điều này được lặp lại không ngưng nghỉ, suốt cả Thời Gian Vô Cùng (Eternity). Mỗi người chúng ta đã trải qua vòng tiến hoá bất tận này và sẽ lặp lại nó mãi mãi. Việc đi lệch khỏi lộ trình của mỗi người, và tốc độ tiến tới của y từ Niết Bàn này đến Niết Bàn khác đều bị chi phối bởi các nguyên nhân mà chính tự y tạo ra do những tình trạng khẩn cấp mà y thấy mình bị vướng vào trong đó“.
The Mahatma Letter, Thư 46 (ML 12), trang 67.
(lxxvi-74):
“When the last cycle of man-bearing has been completed by that last fecund earth; and humanity has reached in a mass the stage of Buddhahood and passed out of the objective existence into the mystery of Nirvana—then “strikes the hour”; the seen becomes the unseen, the concrete resumes its pre-cyclic state of atomic distribution.
But the dead worlds left behind the onsweeping impulse do not continue dead. Motion is the eternal order of things and affinity or attraction its handmaid of all works. The thrill of life will again re-unite the atom, and it will stir again in the inert planet when the time comes. Though all its forces have remained statu quo and are now asleep, yet little by little it will—when the hour re-strikes—gather for a new cycle of man-bearing maternity, and give birth to something still higher as moral and physical types than during the preceding manvantara. And its “cosmic atoms already in a differentiated state” (differing—in the producing force in the mechanical sense of motions and effects) remain statu quo as well as globes and everything else in the process of formation.” Such is the “hypothesis fully in accordance with (your) (my) note.” For, as planetary development is as progressive as human or race evolution, the hour of the Pralaya's coming catches the series of worlds at successive stages of evolution; (i.e.) each has attained to some one of the periods of evolutionary progress—each stops there, until the outward impulse of the next manvantara sets it going from that very point—like a stopped time-piece re-wound. Therefore, I have used the word “differentiated.”
At the coming of the Pralaya no human, animal, or even vegetable entity will be alive to see it, but there will be the earths or globes with their mineral kingdoms; and all these planets will be physically disintegrated in the pralaya, yet not destroyed; for they have their places in the sequence of evolution and their “privations” coming again out of the subjective, they will find the exact point from which they have to move on around the chain of “manifested forms.” This, as you know, is repeated endlessly throughout Eternity. Each man of us has gone this ceaseless round, and will repeat it forever and ever. The deviation of each one's course, and his rate of progress from Nirvana to Nirvana is governed by causes which he himself creates out of the exigencies in which he finds himself entangled.”—From The Mahatma Letters to A. P. Sinnett, p. 67.
