2. Việc kiến tạo linh hồn thể được đưa đến sự hoàn thành viên mãn, và kế đó y bắt đầu đập vỡ những gì y đã tạo ra trước kia, và phá hủy Thánh Điện đã được kiến tạo một cách rất thận trọng, vì nhận ra rằng Thánh Điện đó cũng là một sự giới hạn.
2. The building of the causal body is carried to full completion, and he begins next to shatter what he earlier wrought, and to destroy the Temple so carefully constructed, finding it too to be a limitation.
3. Y không còn tạo nghiệp quả trong ba cõi thấp, mà bắt đầu làm cho nghiệp quả tiêu tan, hay nói theo nghĩa đen là “kết thúc các giao tiếp của y”.
3. He ceases to make karma in the three worlds, but begins to work it off, or, literally, to “wind up his affairs.”
Các Hành Tinh Thượng Đế cũng hành động như thế vì các Ngài cũng có một Thánh Đạo vũ trụphải đặt chân lên, tương tự với con đường mà con người bước lên khi y đến gần với mục tiêu nỗ lực của mình.
So do the Heavenly Men, for They likewise have a cosmic path to tread, analogous to that trodden by man, as he nears the goal of his endeavor.
Ngoài ra, chúng ta có thể đưa quan niệm đi xa hơn nữa một cách chính xác, và hàm ý hành động có bản chất tương tự của Thái Dương Thượng Đế.
Again we can with exactitude carry the concept further still, and predicate action of a similar nature by the solar Logos.
Việc xem xét vấn đề này gần xong, và điều đó phải rõ ràng rằng mối quan hệ giữa các biểu lộ đã nói trước đây có bản chất thông linh (dùng từ thông linh – psychic – theo nghĩa đúng của nó, khi có liên quan với tâm – psyche −, hay linh hồn hay tâm thức) và đề cập đến sự mở rộng dần dần Tri Kiến của Linh hồn (Soul-Knowledge) trong một Hành Tinh Thượng Đế. Một từ cảnh báo nên được phát ra ở đây. Dù cho tất cả các Thực Thể vũ trụ này tìm thấy trong con người một phản ảnh của Bản Thể Riêng của các Ngài, tuy thế, phép loại suy về sự tương đồng không nên bị đẩy đến cực điểm. Con người đang phản chiếu, nhưng y phản chiếu không hoàn hảo; con người đang tiến hóa nhưng y không bận tâm với cùng các vấn đề theo đúng chi tiết như các Manasaputras hoàn thiện đang bận tâm.
The consideration of this question is nearly concluded and it must be apparent that the relation between the aforementioned manifestations is of a psychic nature (using the word psychic in its true sense, as having reference to the psyche, or soul, or consciousness) and deals with the gradual expansion of Soul-Knowledge in a Heavenly Man. A word of warning should here be sounded. Though all these cosmic Beings find in man a reflection of Their Own Nature, yet the analogy of resemblance must not be pushed to extremity. Man reflects, but he reflects not perfectly; man is evolving, but he is not occupied with the same problems in exact detail as are the perfected Manasaputras.
Con người nhắm vào việc trở thành một Manasaputra Thiêng Liêng, hay là Đứa Con Của Trí Tuệ hoàn thiện đang biểu hiện mọi năng lực có sẵn trong thể trí, và như vậy đang trở thành giống với cội nguồn Chân Thần của y, tức một Hành Tinh Thượng Đế. Một Hành Tinh Thượng Đế đã phát triển Manas, và đang bận tâm với vấn đề trở thành một Con của Minh Triết, không phải vốn có sẵn (inherently) mà là trong sự biểu lộ đầy đủ. Một Thái Dương Thượng Đế vừa là một Manasaputra Thiêng Liêng và cũng là một Rồng Minh Triết, và vấn đề của Ngài liên quan
Man aims at becoming a Divine Manasaputra, or perfected Son of Mind showing forth all the powers inherent in mind, and thus becoming like unto his monadic source, a Heavenly Man. A Heavenly Man has developed Manas, and is occupied with the problem of becoming a Son of Wisdom, not inherently but in full manifestation. A solar Logos isboth a Divine Manasaputra and likewise a Dragon of Wisdom, and His problem concerns itself
