User Tools

Site Tools


books:24books:a_treatise_on_cosmic_fire:tcf_926


VIỆC TẠO RA HÌNH HÀI

FORM PRODUCTION

1. Tư tưởng thiêng liêng … Cõi trí vũ trụ

1. Divine thought…The cosmic mental plane.

2. Ước muốn thiêng liêng … Cõi cảm dục vũ trụ

2. Divine desire…..The cosmic astral plane.

3. Hoạt động thiêng liêng … Cõi hồng trần vũ trụ (là 7 cõi thuộc thái dương hệ của chúng ta).

3. Divine activity….The cosmic physical plane (our seven systemic planes).

Linh Khí Thượng Đế… Cõi thứ nhất … Âm A (cclxxxiv)

The logoic Breath…First plane…The Sound A (cclxxxiv) .

Đây là sự xuất hiện đầu tiên bằng dĩ thái của một thái dương hệ trên cõi phụ nguyên tử của cõi hồng trần vũ trụ. Các hạt giống sự sống đều còn tiềm tàng. Năng lực vốn có từ tinh hoa thái dương hệ trước.

This is the first etheric appearance of a solar system upon the atomic subplane of the cosmic physical plane. The seeds of life are all latent. Faculty inheres from an earlier solar essence.

Linh Âm Thượng Đế … Cõi thứ nhì … Âm A U

The logoic Sound…Second plane…The Sound A U.

Đây là thể xác (body) của thái dương hệ trong chất dĩ thái thứ hai. Cõi này là cõi nguyên hình (archetypal plane). Các hạt giống

This is the body of the solar system in the second ether. This plane is the archetypal plane. The seeds of


(cclxxxiv):

Các Âm của thần chú (Mantric Sounds)

Thần chú là một sự kết hợp của các âm, các từ và các cụm từ, mà, nhờ một số hiệu quả nhịp nhàng, nó đạt đến các kết quả vốn không thể xảy ra mà không có chúng. Thần chú linh thiêng nhất trong tất cả các thần chú Đông Phương cho đến nay được đưa ra cho quần chúng là thần chú được thể hiện trong các từ: “Om mani padme hum”. Mỗi vần của cụm từ này có một uy lực bí mật, và toàn thể của nó có bảy ý nghĩa và có thể mang lại bảy kết quả khác nhau.

Có các hình thức thần chú khác nhau, được dựa trên công thức này và trên Thánh Ngữ (Sacred Word), mà khi được phát ra một cách nhịp nhàng và theo các âm điệu (keys) khác nhau, sẽ hoàn thành một vài mục đích mong muốn, như là thỉnh cầu (invoking) các thiên thần bảo hộ, và công việc nhất định, hoặc có tính xây dựng, hoặc có tính phá hủy trên các cõi.

Uy lực của một thần chú tùy thuộc vào mức tiến hóa của người dùng nó. Khi được phát ra bởi một người bình thường, nó dùng để kích thích phần tốt lành bên trong các thể của y, bảo vệ y, và nó cũng sẽ tỏ ra có ảnh hưởng hữu ích lên môi trường của y. Khi được phát ra bởi một adept hoặc điểm đạo đồ, các khả năng của nó đối với điều tốt lành rõ rệt và có ảnh hưởng sâu rộng.

Có nhiều loại thần chú và nói chung có thể liệt kê như sau:

1. Một số thần chú rất huyền bí, có trong tiếng Senza nguyên thủy, dưới sự giám sát của Thánh Đoàn.

2. Một số thần chú bằng tiếng Bắc Phạn được các điểm đạo đồ và các adepts sử dụng.

3. Các thần chú có liên quan với các Cung khác nhau.

4. Các thần chú dùng trong việc chữa bệnh.

5. Các thần chú dùng trong các bộ môn hoặc của Đức Bàn Cổ (Manu), của Đức Bồ Tát, hoặc của Đức Mahachohan.

6. Các thần chú được dùng có liên quan với các thiên thần và các giới tinh linh (elemental kingdom).

7. Các thần chú đặc biệt có liên quan với lửa.

Tất cả các thần chú này có được uy lực của chúng nhờ vào âm thanh và nhịp điệu, và vào sự nhấn mạnh vào âm tiết được truyền cho chúng khi phát ra và ngân lên (intoning). Chúng cũng tùy thuộc vào năng lực của người sử dụng chúng để hình dung (visualise) và để muốn (will) hiệu quả mong muốn.

(cclxxxiv):

Mantric Sounds.

A mantram is a combination of sounds, of words and of phrases that, through virtue of certain rhythmic effects, achieve results that would not be possible apart from them. The most sacred of all the Eastern mantrams given out as yet to the public is the one embodied in the words: “Om mani padme hum.” Every syllable of this phrase has a secret potency, and its totality has seven meanings and can bring about seven different results.
There are various mantric forms, based upon this formula and upon the Sacred Word, which, sounded rhythmically and in different keys, accomplish certain desired ends, such as the invoking of protective angels or devas, and definite work, either constructive or destructive upon the planes.
The potency of a mantram depends upon the point in evolution of the man who employs it. Uttered by an ordinary man it serves to stimulate the good within his bodies, to protect him, and it will also prove of beneficent influence upon his environment. Uttered by an adept or initiate its possibilities for good are infinite and far-reaching.
Mantrams are of many kinds, and generally speaking might be enumerated as follows:
1. Some very esoteric mantrams, existing in the original Sensa, in the custody of the Great White Lodge.
2. Some Sanskrit mantrams employed by initiates and adepts.
3. Mantrams connected with the different rays.
4. Mantrams used in healing.
5. Mantrams used in the departments of either the Manu, the Bodhisattva, or the Mahachohan.
6. Mantrams used in connection with the devas and the elemental kingdoms.
7. Special mantrams connected with fire.

All these mantrams depend for their potency upon the sound and rhythm and upon the syllabic emphasis imparted to them when enunciating and intoning. They depend too upon the capacity of the man who uses them to visualise and to will the desired effect.

books/24books/a_treatise_on_cosmic_fire/tcf_926.txt · Last modified: by 127.0.0.1

Donate Powered by PHP Valid HTML5 Valid CSS Driven by DokuWiki