sửa chữa những lỗi lầm của lời nói không đúng“, và ý nghĩa của các hình thức ngôn từ, các âm thanh trung thực và chính xác, và tính chất lời nói sẽ trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết.
rectify the mistakes of wrong speech;” and the significance of word forms, true and correct sounds, and vocal quality will become ever more apparent.
Từ ngữ quan trọng thứ hai trong Qui Luật thứ tư này là từ ngữ ánh sáng (light). Đầu tiên là âm thanh và rồi đến ảnh hưởng đầu tiên của âm thanh, đó là sự tuôn đổ của ánh sáng, gây ra sự tiết lộ về hình-tư-tưởng (thought form).
The second word of importance in this fourth Rule is the word light. First the sound and then the first effect of sound, the pouring forth of light, causing the revelation of the thought form.
Ánh sáng được biết đến bởi những gì được tiết lộ. Sự vắng mặt của ánh sáng tạo ra sự phai nhạt đi, thành sự có vẻ không tồn tại của thế giới hiện tượng.
Light is known by what is revealed. The absence of light produces the fading away, into apparent non-existence, of the phenomenal world.
Hình-tư-tưởng được tạo ra bởi Diệu Âm (Sound) được dự định trở thành một nguồn mặc khải. Nó phải tiết lộ chân lý, và mang một khía cạnh của thực tại đến với sự nhận biết của kẻ bàng quan (onlooker). Do đó, tính chất thứ hai của hình-tư-tưởng trong công dụng cao nhất của nó, là nó mang ánh sáng đến cho những người cần nó, đến cho những người đang bước đi trong bóng tối.
The thought form created by the Sound is intended to be a source of revelation. It must reveal truth, and bring an aspect of reality to the cognisance of the onlooker. Hence the second quality of the thought form in its highest use is that it brings light to those who need it, to those who walk in darkness.
Ở đây, Tôi không bàn đến ánh sáng với tư cách linh hồn, về mặt vũ trụ (cosmically) hoặc về mặt cá nhân. Tôi không đề cập đến ánh sáng như khía cạnh thứ hai phổ quát của thiên tính. Trong những Hướng Dẫn này, Tôi chỉ muốn bàn đến khía cạnh chân lý vốn sẽ làm cho người tìm đạo trở thành người phụng sự thực tiễn, và như thế giúp cho y hoạt động một cách sáng suốt. Công việc chính của y (và y sẽ ngày càng nhận thấy điều này là như vậy) là để tạo ra các hình-tư-tưởng để đưa sự thiên khải đến những người biết suy tư. Để làm điều này, y phải hoạt động về mặt huyền linh, và thông qua âm thanh của việc thở ra của mình, qua chân lý được khai mở theo nghi thức, y sẽ đưa ánh sáng và sự giác ngộ vào những nơi tối tăm của cõi trần.
I deal not here with light as the soul, cosmically or individually. I touch not upon light as the universal second aspect of divinity. I seek only in these Instructions to deal with that aspect of truth which will make the aspirant a practical worker, and so enable him to work with intelligence. His main work (and increasingly he will find this to be so) is to create thought-forms to carry revelation to thinking human beings. To do this he must work occultly, and through the sound of his breathed forth work, through the truth revealed in form, will he carry light and illumination into the dark places of the earth.
Rồi sau cùng, y làm cho hình-tư-tưởng của y sống động nhờ vào năng lực tin chắc riêng của y, tri thức tinh thần và sức sống. Như vậy, ý nghĩa của từ thứ ba, sự rung động (vibration), xuất hiện. Thông điệp của y được nghe thấy, vì nó được phát ra; nó mang đến sự giác ngộ, vì nó truyền đạt Chân Lý và tiết lộ Thực Tại; nó vô cùng quan trọng, vì nó rung động cùng với sự sống của người sáng tạo ra nó, và được giữ cho tồn tại (in being) bao lâu mà tư tưởng, âm thanh và sự thông tuệ của y còn làm sinh động
Then he finally makes his thought form live through the power of his own assurance, spiritual understanding and vitality. Thus the significance of the third word, vibration, appears. His message is heard, for it is sounded forth; it carries illumination, for it conveys the Truth and reveals Reality; it is of vital import, for it vibrates with the life of its creator, and is held in being as long as his thought and sound and intelligence animate
