sẽ được trợ giúp, nếu chúng bị choán chỗ bởi công việc có tính cuốn hút sâu sắc là việc tạo ra hình-tư-tưởng.
would be aided if they were to be occupied by the profoundly engrossing work of thought-form building.
Một ý tưởng thứ yếu và ít quan trọng hơn, đó là khi các Chân Ngã đang chuẩn bị để khoác lấy cơ thể con người, thì họ bị thu hút sâu vào việc thiền định, nên đồng tử (medium) bình thường rất khó có thể liên lạc với các Chân Ngã đó trong buổi cầu đồng thông thường. Tối đa thì chỉ những ai vừa qua đời rất gần đây mới có thể được giao tiếp như thế, còn trong hầu hết trường hợp, họ ở trong tình trạng trừu xuất thâm sâu có một bản chất khác. Không có thời gian hoặc mục đích trong việc mở rộng chủ đề này ở đây, nhưng thật là lý thú cho những ai tìm hiểu các vấn đề này.
A secondary and less important thought is that as egos, preparing to take human bodies, are deeply engaged in meditation work, it is highly improbable that they can be reached by the ordinary medium in the ordinary seance. At the most, only those who have passed over quite recently can be thus contacted, and they are, in most cases, in a condition of deep abstraction of a different kind. There is no time or purpose in enlarging upon this theme here but it is of interest to those investigating these matters.
1. Tình Trạng của Nước.
1. The Condition of the Waters
Tác nhân sáng tạo, tức con người, qua các thúc đẩy của một mục đích phối hợp, có ý định tham thiền và hoạt động sáng tạo, đã tạo ra hình-tư-tưởng mà y đang phú linh (ensouling) bằng sức sống riêng của mình và điều khiển với ý chí của mình. Đã đến lúc để cho hình-tư-tưởng đó được gửi đi theo sứ mệnh của nó, và để thực hiện mục tiêu tồn tại của nó. Như chúng ta đã thấy trong qui luật trước, hình-tư-tưởng được “xua” ra khỏi người tạo tác ra nó bằng sức mạnh của hơi thở ra. Đây là một phát biểu có tính biểu tượng, nhưng đồng thời là một sự kiện thực nghiệm trong công tác huyền thuật. Trong công việc của đệ tử, thường có sự thất bại do y không có khả năng để hiểu cả ý nghĩa huyền bí lẫn nghĩa đen của hơi thở ra này, khi y xúc tiến việc thiền định của mình. Hơi thở ra này là kết quả của giai đoạn đi trước của việc hít thở nhịp nhàng, được song hành bởi công việc thiền định có tập trung, rồi đến một sự tập trung chú ý rõ rệt và tập trung vào hơi thở, vì mục đích của hình-tư-tưởng tạo ra được xác định bằng trí, và cuối cùng là việc tiếp sinh lực cho hình-tư-tưởng đó bởi người sáng tạo ra nó, và việc truyền năng lượng sau đó vào sự sống và hoạt động độc lập của nó.
The creating agency, man, has through the incentives of a co-ordinating purpose, intent meditation, and creative activity built the thought-form which he is ensouling with his own vitality and directing with his will. The time has come for that thought-form to be sent upon its mission and to carry out the purpose of its being. As we saw in the earlier rule, the form is “driven” from its creator by the power of the expulsive breath. This is a symbolic statement but, at the same time, an experimental fact in the magical work. In the disciple's work, there is often failure owing to his inability to understand both the esoteric and the literal significance of this expulsive breath as he carries forward his meditation work. This expulsive breath is the result of a preceding period of rhythmic breathing, paralleled by concentrated meditation work, then a definite focussing of the attention and the breath, as the purpose of the created form is mentally defined, and finally, the vitalizing of the thought-form, by its creator, and its consequent energizing into independent life and activity.
Trở ngại đầu tiên cho hiệu lực của công việc là do sự thất bại của vị đệ tử khi tiến hành các hoạt động này
The first hindrance to the potency of the work comes through the failure of the disciple to carry on these activities
