ý nghĩ không tử tế, sẽ phá vỡ nhịp điệu mà y tin rằng đã được thiết lập. Y tiếp tục công việc của mình nhưng tăng cường việc thiền định của mình; y rà soát các động cơ của mình, y tìm cách trang bị thể trí của mình; y đặt trước mặt mình lý tưởng phụng sự và bao giờ cũng tìm cách để phụng sự, và rồi (khi y quá bị cuốn hút vào công việc đang cáng đáng đến nỗi y đã quên đi chính mình), đột nhiên một ngày kia y nhìn thấy Đấng mà từ rất lâu Ngài đã nhìn thấy y.
thought will break the rhythm which he believes has been set up. He proceeds with his work but intensifies his meditation; he searches his motives; he seeks to equip his mental body; he sets before himself the ideal of service and seeks ever to serve; and then (when he is so engrossed in the work on hand that he has forgotten himself), suddenly one day he sees the One Who has for so long seen him.
Điều này có thể xảy ra theo hai cách: trong ý thức tỉnh táo hoàn toàn, hoặc bằng sự ghi nhận cuộc gặp gỡ trên bộ óc xác thân, khi bộ óc đó đã được tham dự trong khi ngủ.
This may come in two ways: in full waking consciousness or by the registering of the interview on the physical brain as it has been participated in during the hours of sleep.
Nhưng kèm theo sự nhận thức của vị đệ tử về biến cố đó, một số nhận thức khác sẽ xảy ra.
But accompanying this recognition of the event by the disciples will come certain other recognitions.
1. Biến cố đó được nhận biết như là sự thực không cần mọi sự tranh cãi. Không có nghi ngờ nào còn lại trong trí của đệ tử.
1. The event is recognised as fact past all controversy. No doubt remains in the disciple's mind.
2. Có một sự ức chế được nhận biết về phần của đệ tử để đề cập đến việc xảy ra với bất kỳ ai. Nhiều tháng hoặc nhiều năm có thể trôi qua trước khi đệ tử sẽ nhắc đến nó, và khi ấy chỉ với những người cũng được nhận biết như là các đệ tử, hoặc với một người phụng sự cùng nhóm, cũng ở dưới cùng một ảnh hưởng của nhóm, mà họ có quyền biết và quyền của họ được Chân Sư của nhóm chuẩn nhận.
2. There is recognised an inhibition on the disciple's part to mention the happening to any one. Months or years may slip away before the disciple will mention it, and then only to those who are also recognised as disciples or to some fellow worker, also under the same group influence, whose right it is to know and whose right is sanctioned by the Master of the group.
3. Một số yếu tố, chi phối mối quan hệ của Chân Sư với vị đệ tử, dần dần được nhận ra, và bắt đầu ngày càng chi phối cuộc sống của đệ tử.
3. Certain factors, governing the Master's relation to the disciple, are gradually recognised and begin increasingly to govern the disciple's life.
a. Y nhận ra rằng các phạm vi tiếp xúc của y với Chân Sư của mình bị chi phối bởi sự cấp bách và nhu cầu của nhóm, và liên quan với việc phụng sự của nhóm của y. Điều dần dần trở nên rõ ràng với y đó là Chân Sư của y chỉ quan tâm đến y trong chừng mực mà chân ngã (ego) của y có thể được dùng trong việc phụng sự, qua phàm ngã trên cõi trần. Y bắt đầu nhận ra rằng Chân Sư của y làm việc với linh hồn của y, và rằng chính là ego của y, do đó, mới có liên quan với Chân Sư chứ không phải là phàm ngã. Do đó, vấn đề của y ngày càng trở nên rõ ràng và đây là vấn đề của tất cả các đệ tử. Đó là giữ cho
a. He recognises that his points of contact with his Master are governed by group emergency and need, and deal with his group service. It gradually dawns on him that his Master is only interested in him insofar as his ego can be used in service, through the personality on the physical plane. He begins to realise that his Master works with his soul and that it is his ego, therefore, which is en rapport with the Master and not the personal self. His problem, therefore, becomes increasingly clear and this is the problem of all disciples. It is to keep the
