vận hà giao tiếp mở ra giữa linh hồn và não bộ, xuyên qua thể trí, để khi Chân Sư muốn giao tiếp, Ngài có thể làm như vậy lập tức và dễ dàng. Đôi khi một Chân Sư phải chờ nhiều tuần trước khi Ngài có thể có sự lắng nghe của đệ tử của Ngài, vì vận-hà hướng lên bị đóng lại và linh hồn không giao tiếp được với não. Điều này đặc biệt đúng với các giai đoạn đầu của tình trạng đệ tử.
channel of communication open between the soul and the brain, via the mind, so that when the Master seeks to communicate, He can do so at once and easily. Sometimes a Master has to wait weeks before He can get His disciple's ear, for the channel upward is closed and the soul is not en rapport with the brain. This is especially true of the early stages of discipleship.
b. Y nhận thấy rằng chính y là kẻ đóng cánh cửa trong đa số trường hợp do tâm-thông-thuật (psychism) thấp, sự yếu kém về thể chất và sự thiếu kiểm soát tâm trí, và do đó y phát hiện ra rằng y phải làm việc liên tục và không ngừng với phàm ngã (lower self) của mình.
b*. He finds that it is he* who shuts the door in the majority of cases through lower psychism, physical disability, and lack of mind control, and he therefore discovers that he has to work constantly and ceaselessly with his lower self.
c. Y nhận thấy rằng một trong những việc đầu tiên y phải làm là học cách phân biệt giữa:
c. He finds that one of the first things he has to do is to learn to discriminate between:
− Rung động của linh hồn của chính mình.
His own soul's vibration.
− Rung động của nhóm đệ tử mà y được cộng tác.
The vibration of the group of disciples with whom he is associated.
− Rung động của Chân Sư.
The vibration of the Master.
Cả ba rung động này khác nhau và rất dễ nhầm lẫn chúng, nhất là lúc đầu. Một quy tắc an toàn mà những người tìm đạo phải có khi họ tiếp xúc một rung động và tác nhân kích thích cao, rằng đó là chính linh hồn của họ tiếp xúc với chúng, tức vị Chủ Nhân (Master) trong tâm, và không tránh né ý tưởng (như thế làm tôn lên tính tự cao và phàm ngã của họ) rằng Chân Sư đang nỗ lực để đến với họ.
All three are different and it is easy to confuse them, especially at first. It is a safe rule for aspirants to assume when they contact a high vibration and stimulus, that it is their own soul contacting them, the Master in the heart, and not run off with the idea (so flattering to their pride and personality) that the Master is endeavouring to reach them.
d. Y cũng nhận thấy rằng các Chân Sư không có thói quen làm tôn lên hoặc hứa hẹn với các đệ tử của các Ngài. Các Ngài quá bận rộn và quá minh triết, các Ngài cũng không tự gây phiền toái cho các Ngài, khi nói với đệ tử của các Ngài rằng họ được dự định cho chức vụ cao, hoặc họ là những người trung gian của các Ngài và Thánh Đoàn đang nhờ cậy vào họ. Tham vọng, sự yêu thích quyền lực, và tính tự mãn vốn tiêu biểu cho nhiều kiểu mẫu trí tuệ, thử thách người tìm đạo đang phấn-đấu, và y nhận được từ phàm ngã của mình tất cả những gì y cần theo đường hướng đó. Những tính chất này lừa dối y và dẫn y đi lạc lối, đẩy
d. He finds also that it is not the habit of the Masters to flatter or to make promises to their disciples. They are too busy and too wise, nor do They trouble Themselves to tell Their disciples that they are destined for high office, or that they are Their intermediaries and that the Hierarchy is depending upon them. Ambition, love of power, and the self-sufficiency which characterises many mental types test out the struggling aspirant, and he gets from his personality all that he needs in that line. These qualities delude him and lead him astray, forcing
