4. Cõi của các cực rung động.
4. The plane of the vibrating poles.
5. Cõi mà trên đó một sự lựa chọn được thực hiện.
5. The plane whereon a choice is made.
Một trong những việc quan trọng nhất mà mỗi người tìm đạo phải thực hiện là học để hiểu cõi cảm dục, để thấu đáo bản chất của nó, và học để đứng tách ra khỏi nó, và sau đó hoạt động trên nó. Trong hướng dẫn này, tôi tìm cách đưa ra một số giáo huấn rõ ràng về cõi này, bởi vì vào lúc mà một người có thể “nhìn thấy” trên cõi cảm dục, và có thể đạt được trạng thái cân bằng và giữ vững vàng ở giữa các lực rung động của nó, thì lúc đó y đã sẵn sàng cho cuộc điểm đạo.
One of the most vital things every aspirant has to do is to learn to understand the astral plane, to comprehend its nature and to learn both to stand free from it and then to work on it. In this instruction, I seek to give some clear teaching on this plane, for the moment a man can “see” on the astral plane, and can achieve equilibrium and hold steady in the midst of its vibrating forces, that moment he is ready for initiation.
Đầu tiên, chúng ta hãy tập trung lại một số thuật ngữ được dùng để mô tả lãnh vực Tồn Tại thiêng liêng (divine Being) này, mà với nó, con người trước tiên phải nhận dạng chính mình, thâm nhập vào trung tâm, xuyên qua ảo tưởng được che giấu của nó, và cuối cùng giữ được điềm tĩnh, không bị xúc động, tách riêng ra, không bị ảnh hưởng và không bị ràng buộc.
First, let us gather together some of the terms which are used to describe this sphere of divine Being wherewith a man has first to identify himself, penetrate to the centre, pierce through its veiled illusion, and eventually stand poised, untouched, detached, uninfluenced and free.
Thuật ngữ “thuộc về sao” (“astral”, trong “astral plane” là “cõi cảm dục”), rất thường được dùng, thực ra là cách đặt tên sai. Về cơ bản, H.P.B. có lý khi bà dùng thuật ngữ này để nói đến các phân cảnh dĩ thái hoặc sinh lực của cõi trần. Khi tiếp xúc với thế giới dĩ-thái, ấn tượng đầu tiên được mang lại luôn luôn là một ánh sáng đầy sao, sự sáng chói, sự nhấp nháy. Tuy nhiên, dần dần từ ngữ này trở thành được đồng nhất với Kama hay là dục vọng (desire), và vì thế được dùng để chỉ cõi của phản ứng tình cảm.
The term “astral” so often used is in reality a misnomer. H. P. B. was basically right when she used the term in connection with the etheric or vital planes of the physical plane. When contact is made with the etheric world, the first impression given is always of a starry light, of brilliance, of scintillation. Gradually, however, the word became identified with Kama or desire, and so was used for the plane of emotional reaction.
Thật là lý thú khi ghi nhận điều này, vì nó là một trường hợp về tác dụng của cõi cảm dục (astral plane) trên bộ não con người, tác dụng này, trong tình trạng không am hiểu về nó, làm đảo ngược thực tế và thấy mọi thứ trong tình trạng lộn ngược đầu. Sự xuất hiện của cõi cảm dục khi được nhìn thấy chính xác lần đầu bằng “con mắt đã mở” của người tìm đạo là sự xuất hiện của sương mù dày đặc, hỗn độn, các hình thể hay thay đổi, các màu sắc hòa nhập (interpenetrating) và trộn lẫn với nhau, và có bề ngoài mang nhiều màu sắc biến ảo đến nỗi sự vô vọng của công việc dường như đang lấn át. Nó không phải là ánh sáng, hoặc đầy sao, hoặc trong trẻo. Nó có vẻ là một sự hỗn độn không thể xuyên qua được, vì đó là nơi gặp gỡ của các lực (forces). Bởi vì các mãnh lực trong
It is interesting to note this for it is in itself an instance of the effect of the astral plane upon the human brain, which in its uninformed condition reverses the reality and sees things in an upside down state. The appearance of the astral plane when first definitely seen by the “opened eye” of the aspirant is one of dense fog, confusion, changing forms, interpenetrating and intermingling colours, and is of such a kaleidoscopic appearance that the hopelessness of the enterprise seems overwhelming. It is not light, or starry or clear. It is apparently impenetrable disorder, for it is the meeting ground of forces. Because the forces in the aspirant's
