bí huyệt ấn đường của nhà huyền linh thuật – linh hồn kết hợp với khí cụ của nó.
ajna centres of the white magician—the soul in conjunction with its instrument.
5. Các lớp vỏ của phàm ngã, mỗi lớp vỏ có sự sống riêng của chính nó, cảm thấy chúng đang mất đi sức mạnh của chúng và trận chiến giữa các mãnh lực của vật chất và mãnh lực của linh hồn được tiếp tục một cách mãnh liệt.
5. The personality sheaths, each with its own individual life, feel they are losing their power and the battle between the forces of matter and the force of the soul is violently renewed.
6. Trận chiến này phải được giải quyết trên cõi cảm dục và sẽ quyết định ba điều:
6. This battle must be fought out on the astral plane and will decide three things:
a. Cho dù thế nào đi nữa, trong bất kỳ một kiếp sống nào đó (đối với một kiếp sống nào đó chứa đựng giai đoạn quyết định), linh hồn sẽ là yếu tố chi phối và phàm ngã từ đó trở đi là kẻ tôi tớ của linh hồn.
a. Whether the soul will, in any one life (for some life holds the critical stage), be the dominant factor and the personality from henceforth be the servant of the soul.
b. Dù gì đi nữa, cõi cảm dục không còn là cõi của ảo tưởng, mà có thể trở thành lĩnh vực phụng sự.
b. Whether the astral plane is no longer the plane of illusion, but can become the field of service.
c. Dù sao, một người có thể trở thành một người hợp tác (co-operator) tích cực với Thánh Đoàn, có khả năng sáng tạo và vận dụng chất trí, và nhờ thế thể hiện các mục đích của Thiên-Trí (Universal Mind) vốn được thúc đẩy bởi lòng bác ái vô biên và vô hạn, và là biểu hiện của Sự Sống Duy Nhất.
c. Whether the man can become an active co-operator with the Hierarchy, able to create and to wield mental matter, and so work out the purposes of the Universal Mind, which are prompted by boundless and infinite love, and are the expression of the One Life.
Đây là mấu chốt của toàn bộ tình hình, và khi con người đã làm chủ được các mãnh lực chống đối với y, thì y đã sẵn sàng cho cuộc điểm đạo thứ hai, cuộc điểm đạo này đánh dấu việc giải thoát linh hồn ra khỏi ngục tù của thể cảm dục. Từ nay trở đi linh hồn sẽ sử dụng thể cảm dục, và uốn nắn dục-vọng theo đường lối với mục đích thiêng liêng.
This is the crux of the entire situation, and when the man has mastered the forces opposed to him, he is ready for the second initiation which marks the release of the soul from the prison of the astral body. Henceforth the soul will use the astral body, and mould desire into line with divine purpose.
Thật đáng giá cho đạo sinh để biết được mình đang ở đâu và nỗi khó khăn đặc biệt của mình là gì. Kẻ thường nhân đang học cách kiểm soát xác thân và sắp đặt đời sống hồng trần của mình. Đạo sinh trên đường dự bị đang học một bài học tương tự liên quan đến thể cảm dục của mình, đó là kiểm soát sự tập trung của nó, các ham muốn của nó, và hoạt động của nó. Đạo sinh trên con đường đệ-tử nhập môn phải chứng tỏ sự kiểm soát này, và bắt đầu rèn luyện bản chất thể trí vào kỹ luật và nhờ thế tác động một cách có ý thức vào thể trí. Công việc của điểm đạo đồ và vị adept phát triển bên ngoài những thành tựu này, và chúng không cần được bàn đến ở đây.
It is of value for the student to know where he stands and what his particular problem is. The average man is learning the control of the physical body and the organizing of his physical plane life. The student on the probationary path is learning a similar lesson in relation to his astral body, its focus, its desires and its work. The student on the path of accepted discipleship has to demonstrate this control and begin to discipline the mind nature and so function consciously in the mental body. The work of the initiate and the adept grows out of these achievements and they need not be dealt with here.
Cuộc chiến được trải rộng trên một loạt các kiếp sống, nhưng trong một kiếp sống nào đó, cuộc chiến trở nên có tính cách quyết định, sự kháng cự cuối cùng được thực hiện và Arjuna chiến thắng trong trận đánh, nhưng chỉ bằng cách để cho Krishna nắm lấy các phương tiện kiểm soát, bằng cách học kiểm soát thể trí và bằng sự khải thị về hình tướng của Thượng Đế. Bằng sự phân biệt giữa linh hồn với sắc tướng, và bằng một linh-thị về sự rực rỡ tuyệt mỹ có thể tỏa ra từ các hình tướng “được Thượng Đế chiếm ngự”, y học cách chọn Con Đường ánh sáng và học cách thấy hình hài của mình và mọi hình hài khác như những người canh giữ ánh sáng. Vì vậy, y bắt tay vào công việc làm cho thể cảm dục chỉ đơn giản là một vật phản chiếu của ánh sáng đó, và bằng sự chế ngự ham muốn, thông qua sự chinh phục các “Hỏa thần” (“Agnisuryans”) vốn cấu thành thể cảm-dục của y và là chất sống (living substance) của cõi cảm-dục, y học cách hoạt động như một cao đồ (adept) trên cõi đó, học cách đi xuyên qua ảo ảnh của nó và học cách thấy sự sống thật sự.
The battle is spread over quite a series of lives, but in some one life it becomes critical; the final stand is made and Arjuna triumphs in the fight, but only by letting Krishna assume the reins of control, by learning mind control and by the revelation of the form of God. By distinguishing between the soul and the form, and by a vision of the perfection of the glory which can radiate from the forms “indwelt by God”, he learns to choose the Way of light and to see his form and all forms as custodians of the light. So he buckles down to the work of making the astral body simply a reflector of that light and by the quelling of desire, through the subjugation of the “Agnisuryans” who constitute his astral body and are the living substance of the astral plane, he learns to function as an adept on that plane, to pierce through its illusion and to see life true.
Nói một cách tượng trưng thì vật chất của cõi cảm-dục được làm sinh động bằng ba loại lực thiêng liêng, mà khi được tập hợp lại với nhau, các lực này tạo ra đại Hão Huyền (great Illusion). Các loại lực này là:
Speaking symbolically the substance of the astral plane is animated by three types of divine force, which, when brought together, produce the great Illusion. These are:
− Thứ nhất, lực của dục vọng ích kỷ. Năng lượng giáng hạ tiến hóa (involutionary) này đóng một vai trò lớn trong việc đem đến sự tiến hóa, vì tính ích kỷ là nơi nuôi dưỡng các linh hồn ấu trĩ. Do đó người có đạo tâm cự tuyệt khi bị nó nắm giữ.
First, the force of selfish desire. This involutionary energy plays a big part in bringing about evolution, for selfishness is the nursery of infant souls. Hence the aspirant refuses to be held by it.
− Thứ hai, lực của sự sợ hãi. Đây là sản phẩm của sự vô minh, và trong những giai đoạn đầu của nó, nó không phải là sản phẩm của tư duy sai lầm. Về mặt cơ bản nó thuộc về bản năng và được thấy đang chi phối trong giới động vật chưa có trí cũng như trong giới nhân loại. Nhưng trong con người, sức mạnh của nó được tăng lên mạnh mẽ do các quyền năng của thể trí, do ký ức về sự đau khổ và sự ưu phiền trong quá khứ, và do sự đề phòng về những điều đó mà chúng ta tiên đoán, sức mạnh của sự sợ hãi được tăng cường rất nhiều bởi hình-tư-tưởng mà chính chúng ta đã tạo nên bằng các nỗi sợ và
Second, the force of fear. This is the product of ignorance, and in its initial stages it is not the product of wrong thinking. It is basically instinctual and is found dominating in the non-mental animal kingdom as well as in the human kingdom. But in the human, its power is increased potently through the powers of the mind, and through memory of past pain and grievance and through anticipation of those we foresee, the power of fear is enormously aggravated by the thought-form we ourselves have built of our own individual fears and
