họ có thể ít nhận ra điều đó. Đó thực sự là một kết quả của ba loại sợ hãi khác; kết quả của sự căng thẳng mà họ tạo ra trên thể cảm dục của họ, của sự căng thẳng bị gây ra bởi việc sử dụng khả năng tưởng tượng, và của sự căng thẳng do tranh luận gây ra trong hệ thần kinh thể xác. Hệ thần kinh này trở nên quá đỗi nhạy cảm và có thể chịu sự đau khổ về thể chất sâu sắc nhất. Những điều bất hạnh (ills) và bệnh tật có vẻ không quá quan trọng đối với người bình thường, còn những hạng người điềm tĩnh hơn thì bị nặng thêm thành một tình trạng đau đớn thực sự. Điều này cần được nhận thức bởi những người chăm sóc cho các bệnh nhân, và nên chọn những bước để làm nhẹ đi tình trạng thể chất qua việc sử dụng các thuốc an thần và thuốc gây mê, sao cho sự căng thẳng quá mức không nên được đặt trên một hệ thần kinh đã làm việc quá sức.
they may recognise it. It is really a result of the other three classes of fears; of the strain which they put upon their astral body, and the tension caused by the use of the imaginative faculty and the reasoning tension in the physical nervous system. This system becomes very much over-sensitised and capable of the most acute physical suffering. Ills and ails which would seem of no vital importance to the ordinary and more phlegmatic types are aggravated into a condition of real agony. This should be recognised by those who care for the sick and steps should be taken to minimise the physical condition through the use of sedatives and of anesthetics so that undue strain should not be put on an already overworked nervous system.
Bạn hỏi Tôi liệu Tôi có ủng hộ việc dùng ether và chloroform trong các cuộc giải phẫu, và việc dùng các loại thuốc an thần. Về cơ bản thì không, nhưng tạm thời thì tất nhiên là có. Khi sự tiếp xúc của con người với linh hồn của y được thiết lập vững chắc, và khi y đã phát triển khả năng đi vào và ra khỏi thể xác của mình theo ý muốn thì các trợ giúp này sẽ không còn cần thiết. Trong khi chờ đợi, chúng có thể được coi là các biện pháp khẩn cấp cần phải có do nghiệp quả thế giới và trình độ tiến hóa của nhân loại. Tất nhiên Tôi không đề cập đến việc sử dụng ma túy và các loại thuốc gây nghiện bởi những người cuồng loạn và thiếu cân bằng, mà đề cập đến việc sử dụng thận trọng các chất cải thiện (ameliorants) tình trạng đau đớn theo hướng dẫn khôn ngoan của bác sĩ.
You ask me whether I am endorsing the use of ether and chloroform in operations, and of sedative drugs. Not basically, but most certainly temporarily. When man's contact with his soul is firmly established, and when he has developed the faculty of passing in and out of his physical body at will, these helps will no longer be needed. They may be regarded in the meantime as emergency measures, necessitated by world karma and the point of evolution of the race. I am not of course referring to the use of narcotics and of drugs by hysterical and unbalanced people, but to the judicious use of ameliorants of pain under the wise guidance of the physician.
4. Sợ Thất Bại. Nỗi sợ này ảnh hưởng đến nhiều người theo nhiều cách. Sợ rằng người ta không thể làm cho tốt, sợ rằng chúng ta không thể có được tình yêu và sự ngưỡng mộ của những người mà chúng ta yêu thương, sợ rằng những người khác ghét bỏ chúng ta hoặc coi thường chúng ta, sợ rằng người ta không thể thấy và nắm lấy cơ hội, đây là tất cả các khía cạnh của phức cảm sợ hãi đang nhuốm màu đời sống của rất nhiều người đáng kính. Điều này có thể dựa trên một môi trường không thích hợp và không được ưa chuộng, dựa trên một thiết bị có vẻ như không phù hợp với nhiệm vụ của nó, và trong nhiều trường hợp thì điều này có nguồn gốc ở sự kiện là một người là một đệ-tử, hay là một linh hồn thực sự lớn đã sẵn sàng để bước lên Con Đường Dự Bị.
4. Fear of Failure. This affects many people along many lines. The fear that one may fail to make good, the fear that we may not gain the love and admiration of those we love, the fear that others despise us or look down upon us, the fear that one may fail to see and grasp opportunity, these are all aspects of the fear complex which colours the lives of so many worthy people. This can be based upon an environment which is uncongenial and unappreciative, on an equipment which seems inadequate to its task, and in many cases has its roots in the fact that a man is a disciple, or a really big soul ready to tread the Probationary Path.
Y đã có chút ít sự tiếp xúc với linh hồn; y đã thấy viễn kiến và triển vọng; y xem xét phàm-ngã của y và sắp xếp nó bên cạnh công việc phải làm, và xem xét tính cách của những người đã tiếp xúc với y. Kết quả là một mặc cảm tự ti thuộc loại mạnh nhất, vì được nuôi dưỡng bằng những dòng thần lực thực sự từ trên cao. Chúng ta đều biết là năng lượng theo sau tư tưởng và bị nhuốm màu bởi tính chất của tư tưởng đó. Người đó chuyển một cái nhìn phê phán và kinh tởm lên phàm-ngã của y, và bằng cách làm như vậy, y nuôi dưỡng chính những điều mà y phàn nàn, và như thế làm cho y càng không thích hợp hơn nữa với nhiệm vụ. Đó là một vòng lẩn quẩn của sự nỗ lực và phải được hóa giải bằng một sự nhận thức đầy đủ về chân lý chứa đựng trong các từ: “Khi một người suy tưởng như thế nào thì y trở nên như thế ấy”. Khi y an trụ vào bản thể của linh hồn toàn tri của mình, y trở nên giống như linh hồn đó. Tư tưởng của y được tập trung trong tâm thức của linh hồn, và y trở thành linh hồn đó khi biểu lộ qua trung gian của phàm-ngã.
He has had a touch of soul contact; he has seen the vision and the possibility; he looks at his personality and ranges it up alongside the work to be done, and the quality of the people with whom that has brought him into contact. The result is an inferiority complex of a most powerful kind, because fed by real streams of force from above. Energy, we know, follows thought and is tinctured by the quality of that thought. The man turns a critical and disgusted eye upon his personality and by so doing feeds the very things which he deplores and thus renders himself still more inadequate to the task. It is a vicious circle of effort and must be offset by a complete realisation of the truth contained in the words: “As a man thinketh, so is he.” As he dwells upon the nature of his omniscient soul, he becomes like that soul. His thought is focussed in the soul consciousness and he becomes that soul in manifestation through the medium of the personality.
Đây chỉ là một tổng kết ngắn gọn về các nỗi sợ chính gây buồn phiền cho nhân loại, và chỉ dùng để mở ra chủ đề và mang lại cơ hội cho một vài gợi ý thực tế.
This is but a brief summation of the major fears which afflict humanity and serves only to open up the subject and give opportunity for a few practical suggestions.
II. Sự phiền muộn hoặc đối cực của nó, sự vui tươi. Khi chúng ta đề cập đến vấn đề phiền muộn là chúng ta đang bàn đến một cái gì đó quá phổ biến đến nỗi ít người thoát khỏi sự tấn công của nó. Nó giống như một chướng-khí, một sương mù vây quanh con người và làm cho y không thể thấy rõ ràng, bước đi vững chắc và nhận biết Thực Tại. Nó là một phần của ảo ảnh cảm dục vĩ đại, và nếu điều này được hiểu rõ thì lý do tồn tại của sự phiền muộn sẽ trở nên rõ ràng, vì nguyên nhân của nó hoặc thuộc về thể cảm dục hoặc thuộc về xác thân, và có liên quan đến một tình trạng của thế giới hoặc một tình huống cá nhân. Do đó chúng ta có thể nghiên cứu sự phiền muộn ở các cá nhân và xem xét các nguyên nhân của nó. Nó được gây ra bởi:
II. Depression or its polar opposite, hilarity. When we touch on the subject of depression we are dealing with something so widespread that few escape its attacks. It is like a miasma, a fog which environs the man and makes it impossible for him to see clearly, walk surely, and cognise Reality. It is part of the great astral illusion and, if this is grasped, it will become apparent why depression exists, for the cause of it is either astral or physical and incident to a world situation or a personal situation. We might therefore study depression in individuals and look at its causes. It is caused by:
