trong niềm vui không được kiểm soát, và là đối cực của việc khóc lóc không kiềm chế được. Ở đây, Tôi không bàn đến niềm vui thật sự, cũng không bàn đến ý nghĩa đúng đắn của sự hài hước, mà nói đến những sự bộc phát có tính cuồng loạn của sự vui vẻ, vốn rất phổ biến trong đa số người của nhân loại và dẫn đến những phản tác dụng gây ra sự mệt mỏi.
in unrestrained merriment and which is the opposite pole of unrestrained weeping. I refer not here to true merriment nor the proper sense of humour, but to those hysterical outbreaks of hilarity which are so common among the rank and file of humanity and lead to reactions of fatigue.
3. Một tình trạng mất sinh lực của thể xác. Điều này là do các nguyên nhân khác nhau, như là:
3. A devitalised condition of the physical body. This is due to various causes, such as:
a. Một thể dĩ thái hay thể sinh lực suy yếu.
a. A depleted etheric or vital body.
b. Bệnh ở thể xác, hoặc là vốn có, hoặc được mang sang từ một kiếp sống khác, ngẩu nhiên, hoặc do các phản ứng tình cảm sai lầm, hoặc được tạo ra dưới hình thức là kết quả của nghiệp quả tập thể, chẳng hạn như một bệnh dịch.
b. Physical disease, either inherent or brought over from another life, accidental, or due to wrong emotional reactions, or produced as the result of group karma, such as an epidemic.
c. Thuộc về khí quyển. Nguyên nhân này đôi khi bị bỏ qua, nhưng tình trạng của khí quyển, bản chất của khí hậu, mật độ, độ ẩm hoặc khô, sức nóng hoặc lạnh có một tác dụng nhất định lên quan niệm tâm lý (psychological outlook).
c. Atmospheric. This is sometimes overlooked, but the condition of the atmosphere, the nature of the climate, the density, humidity or dryness, the heat or cold have a definite effect upon the psychological outlook.
Nếu nghiên cứu, bạn sẽ thấy rằng tất cả các nguyên nhân phụ và tạm thời của phiền muộn và đối cực của nó có thể được tập hợp lại theo một trong ba đề mục này, và khi người ta đã xác định được nguyên nhân, thì các cách chữa trị sẽ trở nên rõ ràng.
You will find, if you study, that all subsidiary and temporary causes of depression and its opposite can be grouped under one of these three heads, and when one has ascertained the cause, the cures will become apparent.
Tôi đã bàn khá chi tiết về hai biểu hiện đầu tiên của cảm-dục-lực : Sợ Hãi – sợ chết, lo sợ cho tương lai, sợ đau khổ, sợ thất bại, và nhiều nỗi sợ nhỏ hơn mà nhân loại phải chịu đựng – và Phiền Muộn, vì hai nỗi sợ này tạo thành Tổng Quả (Kẻ Chận Ngõ) cho con người trong kỷ nguyên và chu kỳ này. Cả hai đều biểu thị phản-ứng tri giác (sentient reaction) đối với các yếu tố tâm lý và không thể được giải quyết bằng cách dùng một yếu tố khác như sự can đảm. Chúng phải được đáp ứng bằng sự toàn tri của linh hồn tác động qua thể trí, − mà không phải bằng sự toàn năng của nó. Một gợi ý huyền bí sẽ được nhận thấy trong điều này. Tôi sẽ không bàn đến các yếu tố đã được liệt kê khác, chẳng hạn như sự mong cầu hạnh phúc, sự mong muốn được thỏa mãn các ham muốn xác thịt, và sự mong cầu
I have dealt somewhat at length with the two first manifestations of astral force—Fear—fear of death, of the future, of suffering, of failure, and the many lesser fears to which humanity is subject—and Depression—because these two fears constitute for man the Dweller on the Threshold in this age and cycle. Both of them indicate sentient reaction to psychological factors and cannot be dealt with by the use of another factor such as courage. They must be met by the omniscience of the soul working through the mind,—not by its omnipotence. In this is to be found an occult hint. I shall not deal with the other factors listed, such as desire for happiness, for the satisfaction of the animal appetites, and
