suy nghĩ về cõi cảm dục vũ trụ, chẳng hạn như, khi mà ngay cả cõi của chân ngã (cõi phụ thứ năm của cõi hồng trần vũ trụ, tính từ trên xuống dưới) cho đến nay vẫn là không thể hiểu đối với người bậc trung, và là mục tiêu đối với mọi hoài bảo và thiền định của y.
ponder upon the cosmic astral plane, for instance, when even the plane of the ego (the fifth subplane of the cosmic physical plane, counting from above downwards) is as yet inaccessible to the average man and is the goal for all his aspiration and meditation.
Do đó, đối với con người, Thiên Trí (Universal Mind) có thể được hiểu tốt nhất khi nó tự biểu lộ qua cái mà chúng ta gọi là trí cụ thể, trí trừu tượng, và trực giác hay lý trí thuần túy.
For man, therefore, the Universal Mind can best be grasped as it expresses itself through what we call the concrete mind, the abstract mind, and the intuition or pure reason.
Trí cụ thể là khả năng kiến tạo hình hài. Các tư tưởng (thoughts) là các sự việc (things). Trí trừu tượng là khả năng kiến tạo mô hình (pattern), hay là thể trí làm việc với các bản thiết kế mà dựa vào đó các hình hài được lên khuôn (modelled). Trực giác hay lý trí thuần túy là khả năng giúp cho con người đi vào sự giao tiếp với Thiên Trí và hiểu được Thiên Cơ về phương diện tổng hợp, lĩnh hội được Thiên Ý hoặc tách ra một chân lý cơ bản và thuần túy nào đó.
The concrete mind is the form building faculty. Thoughts are things. The abstract mind is the pattern building faculty, or the mind which works with the blue prints upon which the forms are modelled. The intuition or pure reason is the faculty which enables man to enter into contact with the Universal Mind and grasp the plan synthetically, to seize upon divine Ideas or isolate some fundamental and pure truth.
Mục tiêu của mọi công việc của một người tìm đạo là để hiểu các khía cạnh đó của thể trí mà y phải học cách làm việc với chúng. Do đó công việc của y có thể được tóm tắt như sau:
The goal of all the work of an aspirant is to understand those aspects of the mind with which he has to learn to work. His work therefore might be summed up as follows:
1. Y phải học cách suy tư; để phát hiện rằng y có một bộ máy được gọi là thể trí, và khám phá các năng lực và quyền năng của nó. Các điều này cũng đã được phân tích kỹ cho chúng ta trong hai quyển đầu của bộ Yoga Sutras của Patanjali.
1. He has to learn to think; to discover that he has an apparatus which is called the mind and to uncover its faculties and powers. These have been well analysed for us in the first two books of the Yoga Sutras of Patanjali.
2. Kế tiếp y phải học cách trở về với các diễn trình tư tưởng của y và các khuynh hướng tạo ra hình hài, và khám phá các ý tưởng đang nằm dưới hình-tư-tưởng thiêng liêng, tiến trình thế giới, và vì thế học cách làm việc trong sự phối hợp với thiên cơ, và làm cho việc kiến tạo hình-tư-tưởng của y phụ thuộc vào những ý tưởng này. Y phải học cách thâm nhập vào thế giới của các ý tưởng thiêng liêng này và nghiên cứu “mô hình của các sự vật trong Cõi Trời” như nó được gọi trong Kinh Thánh. Y
2. He has to learn next to get back of his thought processes and form building propensities and discover the ideas which underlie the divine thought-form, the world process, and so learn to work in collaboration with the plan and subordinate his own thought-form building to these ideas. He has to learn to penetrate into the world of these divine ideas and to study the “pattern of things in the Heavens” as it is called in the Bible. He
