phải bắt đầu làm việc với các bản thiết kế mà theo đó vạn-vật hiện tồn được lên khuôn và được nắn tạo. Bấy giờ y trở thành một nhà nghiên cứu thuộc trường phái biểu tượng (student-symbolist), và từ một kẻ sùng bái hình tượng, y trở thành một người theo chủ nghĩa lý tưởng thiêng liêng. Tôi sử dụng những từ này theo ý nghĩa và ngụ ý thực sự của chúng.
must begin to work with the blue prints upon which all that is, is modelled and moulded. He becomes then a student-symbolist, and from being an idolater he becomes a divine idealist. I use these words in their true sense and connotation.
3. Từ chủ nghĩa lý tưởng đã được phát triển đó, y phải tiến sâu hơn nữa, cho đến khi y đi vào lĩnh vực trực giác thuần túy. Bấy giờ, y có thể rút ra chân lý tại cội nguồn của nó. Y tiến nhập vào thể trí của chính Thượng Đế. Y trực cảm (intuits) cũng như lý-tưởng-hóa (idealises), và nhạy cảm với các tư tưởng thiêng liêng. Chúng làm phong phú tâm trí của y. Về sau y gọi những cái này là các khả năng trực giác, khi y thể hiện chúng ra thành các ý tưởng hoặc các lý tưởng, dựa mọi hoạt động và quản lý công việc của y vào chúng.
3. From that developed idealism, he must progress even deeper still, until he enters the realm of pure intuition. He can then tap truth at its source. He enters into the mind of God Himself. He intuits as well as idealises and is sensitive to divine thoughts. They fertilise his mind. He calls these intuitions later, as he works them out, ideas or ideals, and bases all his work and conduct of affairs upon them.
4. Kế đó, y đi theo công việc kiến tạo hình-tư-tưởng một cách hữu thức, được dựa trên những ý tưởng thiêng liêng này, phát ra dưới hình thức các trực giác từ Toàn-Linh-Trí (Universal Mind). Điều này tiến triển nhờ thiền định.
4. Then follows the work of conscious thought-form building, based upon these divine ideas, emanating as intuitions from the Universal Mind. This goes forward through meditation.
Mỗi đạo sinh chân chính đều biết rằng điều này bao hàm sự định trí để tập trung hoặc định hướng hạ trí vào thượng trí. Tạm thời thì những khuynh hướng tạo ra hình-tư-tưởng bình thường bị kiềm chế. Nhờ thiền định, vốn là quyền năng trí tuệ tự giữ chính nó trong ánh sáng, và trong ánh sáng đó nó sẽ trở nên ý thức về thiên cơ, y học cách để “vượt qua” (“bring through”) những khái niệm cần thiết. Nhờ nhập định (contemplation), y nhận thấy y có thể nhập vào sự tĩnh lặng vốn sẽ cho phép y khai thác (tap) thiên trí, cố rút tư tưởng của Thượng Đế ra khỏi tâm thức thiêng liêng (divine consciousness) và hiểu biết. Đây là công việc phía trước mỗi người tìm đạo, và do đó y cần tìm hiểu bản chất của vấn đề trí tuệ của y, là các công cụ mà y nhất thiết phải làm việc với chúng, và y phải sử dụng những gì y học và có được qua việc vận dụng đúng đắn bộ máy trí tuệ đó.
Every true student knows that this involves concentration in order to focus or orient the lower mind to the higher. Temporarily the normal thought-form building tendencies are inhibited. Through meditation which is the mind's power to hold itself in the light, and in that light become aware of the plan, he learns to “bring through” the needed ideas. Through contemplation he finds himself able to enter into that silence which will enable him to tap the divine mind, wrest God's thought out of the divine consciousness and to know. This is the work before each aspirant and hence the necessity of his understanding the nature of his mental problem, the tools with which he must perforce work, and the use he must make of what he learns and gains through right use of the mental apparatus.
Điều này được thực hiện như thế nào? Làm thế nào vượt qua và làm thế nào xây dựng sau đó?
How is this to be done? How bring through and how build afterwards?
