giữa trung tâm quyền lực, tức bản ngã, với khí cụ (equipment); cuối cùng họ bắt đầu ý thức về thiên hướng (vocation) theo ý nghĩa thực sự của thuật ngữ này.
between the centre of power, the self, and the equipment; they finally become conscious of vocation in the true sense of the term.
Nên lưu ý rằng sự phát triển tuần tự này được song hành với một sự tăng trưởng bên trong của ý thức linh hồn, mặc dù cách thức biểu lộ của sự tăng trưởng bên trong đó phần lớn tùy thuộc vào cung (ray) của Thực Thể tâm linh đó.
It should be noted that this sequential development is paralleled by an inner growth of soul awareness, though the mode of expression of that inner growth is largely dependent upon the ray upon which the spiritual Entity is found.
Có một điểm cần được lưu ý ở đây, và dựa vào điểm này mà những người tìm đạo nên hành sử cẩn thận. Hàm ý thông thường của thuật ngữ “sự phát triển tinh thần” chủ yếu là về sự phát triển hiểu biết về tôn giáo. Một người được coi là có khuynh hướng tinh thần nếu y quan tâm đến các Kinh Thánh trên thế gian, nếu y là một thành viên của Giáo Hội, và nếu y sống một đời sống thánh thiện. Nhưng đây không phải là định nghĩa thực sự vì nó không bao hàm đầy đủ. Nó đã phát triển do dấu ấn mà Kỷ Nguyên Song Ngư đã thiết lập trên tư tưởng con người và các thuật ngữ, và qua ảnh hưởng của Cung 6, và hoạt động của Giáo Hội Cơ Đốc – hoàn toàn vô cùng cần thiết và hoàn toàn vốn có trong kế hoạch vĩ đại, nhưng chúng (bị tách ra khỏi tình huống thường xuyên của chúng) dẫn đến việc quá nhấn mạnh về một vài sự biểu lộ thiêng liêng, và việc bỏ qua các biểu lộ khác rất quan trọng của tâm thức thiêng liêng.
One point should be here noted and upon this point aspirants should exercise care. The usual connotation of the words 'spiritual growth' is largely that of religious growth in understanding. A man is deemed spiritual if he is interested in the world Scriptures, if he is a Church member and if he lives a saintly life. But this is no true definition for it is not sufficiently comprehensive. It has grown out of the impress set upon human thought and terminologies by the Piscean Age, and through the influence of the sixth ray, and the work of the Christian Church—all most necessary and all inherent in the great plan, but which (divorced from their eternal context) lead to the over-emphasis of certain divine expressions, and the overlooking of other as vital manifestations of the divine consciousness.
Ý nghĩa thực sự của “sự tăng trưởng tinh thần” còn rộng lớn hơn và bao hàm hơn nhiều so với sự biểu lộ của chúng qua phương tiện của văn học tôn giáo và văn học huyền bí, và các tổ chức dùng cho việc truyền đạt chân lý siêu hình. Quyền lực, mục tiêu và ý chí là các phẩm tính thiêng liêng và các biểu lộ thiêng liêng, và tự bộc lộ chúng một cách rõ ràng như nhau qua một Mussolini hoặc qua một Giáo Hoàng. Trong cả hai trường hợp, bộ máy biểu lộ làm thay đổi và hạ thấp các tính chất và dùng như là một sự trở ngại. Một phàm-ngã đầy uy lực có thể hoạt động trong bất kỳ lĩnh vực biểu lộ nào của con người, và công việc của y sẽ chứng thực cho từ ngữ tinh thần chỉ trong chừng mực mà nó được dựa trên chủ nghĩa lý tưởng cao cả, lợi ích lớn nhất của số đông nhất, và nỗ lực tự hy sinh.
The true significance of the words 'spiritual growth' is far wider and more inclusive than their manifestation through the medium of religious and mystical literature and organisations for the imparting of metaphysical truth. Power, purpose and will are divine qualities and expressions, and show themselves with equal clarity through a Mussolini or through a Pope. In both cases the mechanism of expression modifies and steps down the qualities and serves as a handicap. A potent personality may function in any field of human expression and his work will warrant the word spiritual just in so far as it is based on high idealism, the greatest good of the largest number, and self-sacrificing endeavour.
