cái tổng thể cố kết, sinh động, năng động mà chúng ta gọi là một thái-dương-hệ.
that coherent, living, vital ensemble which we call a solar system.
Trong con người, nguyên khí sự sống này biểu lộ theo ba cách:
This life principle in man manifests in a triple manner:
1. Dưới hình thức ý chí, mục đích, động lực cơ bản có định hướng. Đây là năng lượng năng động vốn làm cho con người hoạt động, đưa con người vào sự sống, đặt kỳ hạn của sự sống con người, đưa con người vượt qua các năm, dài hay ngắn, và tự rút mình ra vào cuối chu kỳ sống của mình. Đây là tinh thần trong con người, biểu lộ dưới hình thức ý chí muốn sống, hiện hữu, hành động, theo đuổi, tiến hóa. Ở trạng thái thấp nhất của nó, tinh thần hoạt động thông qua thể trí (mental body) hay bản chất (nature) trí tuệ, và trong sự liên kết với nhục thân, nó tự làm cho nó được cảm nhận qua não bộ.
1. As the directional will, purpose, basic incentive. This is the dynamic energy which sets the being functioning, brings him into existence, sets the term of his life, carries him through the years, long or short, and abstracts itself at the close of his life cycle. This is the spirit in man, manifesting as the will to live, to be, to act, to pursue, to evolve. In its lowest aspect this works through the mental body or nature, and in connection with the dense physical makes itself felt through the brain.
2. Dưới hình thức lực cố kết. Chính tính chất thiết yếu quan trọng đó làm cho mỗi người khác nhau, tạo ra sự biểu lộ phức tạp về các tâm trạng, các ham muốn, các đặc tính, các phức cảm, các ức chế, các cảm xúc và các đặc điểm vốn tạo ra tâm lý đặc biệt của một người. Đây là kết quả của sự tương tác giữa tinh thần hay khía cạnh năng lượng, với vật chất hay bản chất xác thân. Đây là con người chủ quan đặc biệt, sắc thái của y, hay nốt (note) cá nhân; chính điều này thiết lập tốc độ của hoạt động rung động của cơ thể y, tạo ra loại hình hài đặc biệt của y, chịu trách nhiệm về tình trạng và bản chất của các cơ quan của y, các tuyến của y, và trạng thái bên ngoài của y. Đây là linh hồn và – trong trạng thái thấp nhất của nó – nó hoạt động qua bản chất tình cảm hay cảm dục và liên quan với nhục thân, nó hoạt động qua quả tim.
2. As the coherent force. It is that significant essential quality which makes each man different, which produces that complex manifestation of moods, desires, qualities, complexes, inhibitions, feelings and characteristics which produce a man's peculiar psychology. This is the result of the interplay between the spirit or energy aspect, and the matter or body nature. This is the distinctive subjective man, his colouring, or individual note; this it is which sets the rate of vibratory activity of his body, produces his particular type of form, is responsible for the condition and nature of his organs, his glands, and his outer aspect. This is the soul and—in its lowest aspect—it works through the emotional or astral nature and in connection with the dense physical, through the heart.
3. Dưới hình thức hoạt động của các nguyên-tử và tế bào vốn tạo thành xác thân. Đó là toàn thể các sự sống bé nhỏ vốn tạo thành các cơ quan của con người, bao gồm toàn bộ con người. Các sự sống này có sự sống riêng của chúng và có một ý thức vốn hoàn toàn có tính cá nhân và được nhận biết. Trạng thái này của nguyên khí sự sống hoạt động qua
3. As the activity of the atoms and cells of which the physical body is composed. It is the sum total of those little lives of which the human organs, comprising the entire man are composed. These have a life of their own and a consciousness which is strictly individual and identified. This aspect of the life principle works through
