bạn bè của y sẽ cùng nhau thỏa thuận về ngày giờ, và sẽ không có gì cả ngoại trừ cái hạnh phúc vốn sẽ đặc trưng cho sự ra đi hay chăng? Trong tâm trí của những người ở lại, ý nghĩ đau buồn sẽ không nhập vào, và những cái giường người chết sẽ được coi như là các cơ hội hạnh phúc hơn so với những việc chào đời và hôn lễ hay không? Tôi cho bạn biết rằng điều này sẽ là như thế một cách sâu xa đối với những người sáng suốt của nhân loại trước rất lâu, và dần dần thì điều đó sẽ là thế đối với tất cả mọi người.
his friends would mutually agree on the hour and that nothing but happiness would characterize the passing? That in the minds of those left behind the thought of sorrow will not enter and death beds will be regarded as happier occasions than births and marriages? I tell you, that before so very long this will be deeply so for the intelligent of the race, and little by little for all.
Bạn bảo rằng cho đến nay chỉ có những niềm tin về sự bất tử và không có những bằng chứng chắc chắn nào cả. Trong việc tích lũy chứng cớ, trong những sự tin chắc bên trong tâm người, trong thực tế về niềm tin vào sự tồn tại vĩnh cửu dưới hình thức một ý tưởng trong tâm trí của con người, có sự chỉ dẫn chắc chắn. Nhưng sự chỉ dẫn đó sẽ nhường chỗ cho sự xác tín và tri thức trước khi một trăm năm nữa trôi qua, vì một sự kiện sẽ diễn ra và một sự thiên khải sẽ được trao cho nhân loại, nó sẽ chuyển hy vọng thành điều chắc chắn và niềm tin trở thành tri thức. Trong khi chờ đợi, hãy để một thái độ mới đối với cái chết được vun trồng và một khoa học mới về cái chết được mở ra. Hãy làm cho nó không còn là điều duy nhất mà chúng ta không thể kiểm soát, và điều đó chắc chắn gây trở ngại cho chúng ta; và chúng ta hãy bắt đầu kiểm soát việc ra đi của chúng ta sang phía bên kia, và hiểu biết phần nào kỹ thuật chuyển đổi.
You say there are as yet only beliefs as to immortality and no sure evidences. In the accumulation of testimony, in the inner assurances of the human heart, in the fact of belief in eternal persistence as an idea in the minds of men lies sure indication. But indication will give place to conviction and knowledge before another hundred years has elapsed, for an event will take place and a revelation be given to the race which will turn hope into certainty and belief into knowledge. In the meantime, let a new attitude to death be cultivated and a new science of death be inaugurated. Let it cease to be the one thing we cannot control and which inevitably defeats us and let us begin to control our passing over to the other side, and to understand somewhat the technique of transition.
Trước khi Tôi đề cập đến chủ đề này với nhiều chi tiết hơn, Tôi muốn nói đến “mạng lưới trong não” (“web in the brain”), vốn hãy còn nguyên vẹn đối với đa số người, nhưng không còn tồn tại đối với nhà nhãn thông đã giác ngộ.
Before I take up this subject in greater detail I would like to make reference to the “web in the brain”, which is intact for the majority but is non-existent for the illumined seer.
Trong thể xác con người, như bạn đã biết, chúng ta có một thể sinh lực nằm bên dưới, xuyên thấu, vốn là đối phần của thể xác và lớn hơn thể xác, mà chúng ta gọi là thể dĩ thái hay bản sao. Đó là một thể năng lượng và bao gồm các trung tâm lực và các nadis hay các tuyến lực (force threads). Các tuyến lực này nằm bên dưới, hay là các đối phần của bộ máy thần kinh – gồm các dây thần kinh và các hạch thần kinh. Ở hai nơi trong thể sinh lực của con người có các lỗ thoát (orifices of exit) cho sinh lực (life force). Một lỗ mở nằm trong bí huyệt nhật tùng và một lỗ khác ở trong não nơi đỉnh đầu. Bảo vệ cả hai là một lưới bằng dĩ thái được dệt chặt chẽ, gồm các sợi tơ xen kẻ nhau chứa sinh năng (life energy).
In the human body, as you know, we have an underlying, interpenetrating vital body which is the counterpart of the physical, which is larger than the physical and which we call the etheric body or double. It is an energy body and is composed of force centres and nadis or force threads. These underlie or are the counterparts of the nervous apparatus—the nerves and the nerve ganglia. In two places in the human vital body there are orifices of exit for the life force. One opening is in the solar plexus and the other is in the brain at the top of the head. Protecting both is a closely woven web of etheric matter, composed of interlacing strands of life energy.
Trong tiến trình từ trần, áp lực của sinh năng đập vào mạng lưới, cuối cùng tạo ra một lỗ thủng hoặc chỗ mở. Sinh lực tuôn đổ ra khỏi lỗ này khi sức mạnh của ảnh hưởng đang rút ra của linh hồn tăng lên. Trong trường hợp của loài vật, trẻ con và những người nam lẫn nữ còn an trụ hoàn toàn vào thể xác và thể cảm dục, thì cửa thoát ra là huyệt nhật tùng và chính mạng lưới đó bị đánh thủng, do đó cho phép việc đi ra. Trong trường hợp của các loại người thuộc trí tuệ, của các đơn vị nhân loại tiến hóa cao, thì chính mạng lưới ở đỉnh đầu trong khu vực của thóp (fontanelle) bị vỡ, do đó lại cho phép sự thoát ra của người suy tư thuần lý.
During the process of death, the pressure of the life energy beating against the web produces eventually a puncturing or opening. Out of this the life force pours as the potency of the abstracting influence of the soul increases. In the case of animals, of infants and of men and women who are polarized entirely in the physical and astral bodies, the door of exit is the solar plexus and it is that web which is punctured, thus permitting the passing out. In the case of mental types, of the more highly evolved human units, it is the web at the top of the head in the region of the fontanelle which is ruptured, thus again permitting the exit of the thinking rational being.
Nơi những người tâm thông (psychics), và trong trường hợp của các đồng tử và những người tiên tri bậc thấp (những người có nhãn thông và nhĩ thông), mạng lưới ở bí huyệt nhật tùng luôn luôn đứt vỡ sớm trong kiếp sống, do đó họ dễ dàng chuyển vào hoặc ra khỏi thể xác, đi vào trạng thái xuất thần, như người ta thường gọi, và hoạt động trên cõi cảm dục. Nhưng đối với các loại người này, không có sự liên tục của ý thức, và có vẻ như không có sự liên quan nào giữa cuộc sống ở cõi trần của họ với những diễn biến mà họ kể lại trong trạng thái xuất thần (trance), và họ vẫn thường hoàn toàn không biết về chúng trong tâm thức tỉnh thức. Toàn bộ hoạt động đều ở dưới cơ hoành và có liên quan chủ yếu với sự sống cảm thức của con vật. Trong trường hợp trạng thái nhãn thông hữu thức và trong hoạt động của các nhà tâm thông và nhà thấu thị (seers) bậc cao thì không hề có sự xuất thần, sự ám nhập (obsession) hoặc trạng thái đồng cốt (mediumship). Chính mạng lưới trong bộ não bị thủng, và chỗ hở trong vùng đó cho phép việc tuôn vào của ánh sáng, thông tin và cảm hứng; nó cũng mang lại quyền năng để chuyển vào trạng thái Đại Định (Samadhi), vốn là sự tương ứng về tâm linh với trạng thái xuất thần của bản chất con vật.
In psychics and in the case of mediums and lower seers (clairvoyant and clairaudient people) the solar plexus web is permanently ruptured early in life and easily therefore they pass in or out of the body, going into trance, as it is called, and functioning on the astral plane. But for these types there is no continuity of consciousness and there seems no relation between their physical plane existence and the happenings which they relate whilst in trance and of which they usually remain totally unaware in the waking consciousness. The whole performance is below the diaphragm and is related primarily to animal sentient life. In the case of conscious clairvoyance and in the work of the higher psychics and seers there is no trance, obsession or mediumship. It is the web in the brain which is punctured and the opening in that region permits the inflow of light, information and inspiration; it confers also the power to pass into the state of Samadhi which is the spiritual correspondence to the trance condition of the animal nature.
Do đó, trong diễn trình sự chết, đây là hai lối thoát chính: huyệt nhật tùng đối với người an trụ ở thể cảm dục,
In the process of death these are, therefore, the two main exits: the solar plexus for the astrally polarized,
