và do đó chỉ có ít điều có thể được gọi là có tính chu kỳ trong sự biểu lộ của họ. Họ bao gồm người lao động vất vả thiếu suy xét và người kém văn minh. Kế đó, có những người nam và nữ ở trình độ ngược lại, và đã leo lên tương đối cao trên thang tiến hóa. Những người này được giải phóng khỏi bản chất hoàn toàn vật chất và rất có ý thức về bản chất của dục vọng, nên họ đã học cách để duy trì một hoạt động liên tục – dựa trên giới luật và phụng-sự. Họ làm việc một cách hữu thức với các chu kỳ và hiểu biết phần nào bản chất của chúng. Họ biết nghệ thuật trừu xuất (abstracting) thiêng liêng tâm thức của họ vào tâm thức của linh hồn trong cơn nhập định, có thể kiểm soát và hướng dẫn một cách khôn ngoan hoạt động của họ trong thế giới của con người. Đây là bài học mà mọi đệ-tử đang học, và đây là sự thành tựu cao siêu của các điểm đạo đồ và những người phụng sự lão luyện của nhân loại.
and therefore there is little that can be called cyclic in their expression. They include the unthinking toiler and the uncivilised man. Then there are those men and women who are on the opposite scale, and have climbed relatively high on the ladder of progress. These are so emancipated from the purely physical and are so aware of the nature of desire that they have learnt to preserve a continuous activity—based on discipline and service. They work consciously with cycles and understand somewhat their nature. They know the divine art of abstracting their consciousness into that of the soul in contemplation and can control and wisely guide their work in the world of men. This is the lesson which all disciples are learning and this is the high achievement of the initiates and trained workers of the race.
3. Loại thứ ba của thời kỳ chuyển tiếp, và là loại mà chủ yếu ở đây chúng ta quan tâm tới khi chúng ta xem xét công tác huyền thuật trên cõi trần, là thời kỳ chuyển tiếp được thành tựu và được sử dụng trong tiến trình thiền định. Đạo sinh phải tự mình làm quen với thời kỳ chuyển tiếp này, vì nếu không y sẽ không thể làm việc với quyền năng. Thời kỳ chuyển tiếp hay thời kỳ tĩnh mịch mãnh liệt này, tự phân biệt thành hai phần:
3. The third type of interlude, and the one with which we are here primarily concerned as we consider the magical work on the physical plane, is the interlude achieved and utilised during the meditation process. With this the student must familiarise himself, for otherwise he will be unable to work with power. This interlude or period of intense silence differentiates itself into two parts:
Trước tiên có giai đoạn chuyển tiếp mà chúng ta gọi là sự đại định (contemplation). Tôi muốn nhắc bạn về định nghĩa được đưa ra trong một cuốn sách của Evelyn Underhill, trong đó mô tả đại định là “một giai đoạn chuyển tiếp giữa hai hoạt động”. Giai đoạn tĩnh lặng này nối tiếp dựa trên hoạt động (mà người sơ cơ thấy quá khó khăn) của việc tạo ra sự chỉnh hợp giữa linh hồn - thể trí - não bộ, của việc làm tĩnh lặng thể tình cảm, và của việc thành tựu sự định trí và thiền định vốn sẽ dùng để tập trung và tái định hướng thể trí vào một cõi giới mới, và đặt nó vào trong phạm vi ảnh hưởng của linh hồn. Nó tương tự với giai đoạn hít vào. Trong chu kỳ này, tâm thức sắp mãn nhiệm (outgoing) được tập hợp lại và được nâng lên. Khi nỗ lực này thành công rực rỡ, lúc bấy giờ tâm thức
There is first of all the interlude which we call contemplation. I would remind you of the definition given in a book by Evelyn Underhill which describes contemplation as “an interlude between two activities”. This period of silence succeeds upon the activity (found so difficult by the beginner) of making the alignment between soul-mind-brain, of quieting the emotional body, and of achieving that concentration and meditation which will serve to focus and reorient the mind upon a new world, and place it within the sphere of influence of the soul. It is analogous to the period of inhalation. In this cycle, the outgoing consciousness is gathered in and lifted up. When success crowns this effort, the consciousness then
