a. Đấng vốn là sự sống của hành tinh chúng ta, Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, hoạt động và hiện tồn. Đấng này, hay toàn bộ các sự sống có tổ chức, đôi khi được gọi là Hành Tinh Thượng Đế (planetary Logos), đôi khi gọi là Đấng Thái Cổ (Ancient of Days), đôi khi gọi là Thượng Đế, và đôi khi gọi là Sự Sống Duy Nhất (One Life).
a. The Being Who is the life of our planet, the One in Whom we live and move and have our being. This being, or sum total of organised lives is sometimes called the planetary Logos, sometimes the Ancient of Days, sometimes God, and sometimes the One Life.
b. Các sinh linh vốn cấu thành Nguyên Lý Hạn Định trong một giới của thiên nhiên. Chẳng hạn như Sự Sống vốn đang tự biểu lộ qua trung gian của giới động vật là một thực thể thông tuệ hữu ngã thức, đang hoạt động với nhận thức đầy đủ về ý định và mục tiêu, và đang hạn chế lĩnh vực hoạt động của mình để cung cấp cơ hội và sự biểu lộ thích đáng cho vô số sinh linh đang mưu tìm sự sống, sự tồn tại (being) và phương tiện sinh sống của chúng nơi thực thể này. Bạn hãy xem định luật hy sinh hoạt động suốt cuộc sáng tạo như thế nào.
b. Those lives who constitute the Principle of Limitation in a kingdom of nature. The Life that is, for instance, expressing itself through the medium of the animal kingdom is a self-conscious intelligent entity, working in full awareness of intent and objective, and limiting his sphere of activity in order to provide due opportunity and expression for the myriad lives that find their life and being and sustenance in him. See you how the law of sacrifice runs throughout creation.
c. Các con của trí tuệ, các nhân hồn (human souls), các thái dương Thiên Thần, các con thiêng liêng của Thượng Đế, các vị này, vốn có đầy đủ ngã thức, thực hiện một số mục tiêu được nhìn thấy rõ ràng qua trung gian của gia đình nhân loại.
c. The sons of mind, human souls, solar Angels, the divine sons of God who in full self-consciousness work out certain well seen ends through the medium of the human family.
2. Các sự sống vốn bị hạn chế trong hình tướng vì chúng không có ngã thức mà chỉ là các thành phần cấu thành vô thức của một hình hài lớn hơn. Chúng chưa phát triển tới mức để trở thành các thực thể hữu ngã thức.
2. Those lives who are limited in form because they are not self-conscious but are unconscious constituent parts of a greater form. They have not yet evolved to the point where they are self-conscious entities.
Có thể nói rằng loại thứ hai này bao gồm tất cả các sự sống, nhưng đường phân chia ranh giới giữa giới hạn tự tạo và việc khoác lấy hình tướng không được nhận thức (unrealised form taking) hoàn toàn nằm trong lĩnh vực của ý thức. Một số sự sống là những tù nhân và chúng biết điều đó. Một số khác là những tù nhân và chúng không biết điều đó. Đầu mối đau khổ nằm ngay tại đây trong lĩnh vực trí tuệ. Sự đau đớn và sự thống khổ, sự nổi loạn và sự thôi thúc hữu thức hướng tới sự cải thiện và sự thay đổi các điều kiện chỉ được tìm thấy nơi cái mà chúng ta gọi là cá tính, đang hiện hữu ở nơi mà “cái tôi” phức tạp đang kiểm soát, và ở nơi mà một thực thể hữu ngã thức đang hoạt động. Dĩ nhiên là có
It might be said that this second category includes all existences, but the line of demarcation between self-produced limitation and unrealised form-taking lies entirely in the realm of consciousness. Some lives are prisoners and know it. Others are prisoners and know it not. The clue to suffering lies right here in the realm of mind. Pain and agony, rebellion and the conscious urge towards betterment and the changing of conditions are only found where what we call individuality is present, where the “I” complex is controlling, and where a self-conscious entity is functioning. There is of course
