1. Bản thân y là một con người;
1. Himself as a human being;
2. Đồng bào của y có liên quan với chính y và Tổng-Thể;
2. His fellow man in relation to himself and the Whole;
3. Giới thứ tư trong thiên nhiên, tức giới nhân loại, khi xét toàn bộ giới đó như một thực thể, một sự sống có tổ chức hoạt động trên cõi trần, nơi trú ngụ của linh hồn, được tinh thần làm sinh động.
3. The fourth kingdom in nature, the human kingdom, viewing that entire kingdom as an entity, an organized life functioning on the physical plane, indwelt by soul, animated by spirit.
Do đó, điều này có nghĩa là với cương vị là một con người, y đáp ứng với đồng loại của mình và cũng ý thức mục đích của giới mà y thuộc về. Điều này có thể được diễn đạt rõ ràng nhất trong một số lời lẽ kỳ diệu từ một tác phẩm cổ trong Văn Khố của các Chân Sư. Nó được cho là có niên đại lùi lại đến đầu thời Atlantis. Vật liệu mà trên đó bản viết được tìm thấy thì cổ xưa và mỏng manh đến nỗi tất cả những gì mà chính các Chân Sư có thể chạm đến và nhìn thấy là một sự kết tụ (precipitation) được làm từ nó, bản gốc được lưu giữ tại Shamballa. Nó viết như thế đó, với vài chỗ xóa, mà khôn ngoan hơn là không đưa chúng vào:
This means, therefore, that as a man he is responsive to his kind and is aware also of the purpose of the kingdom to which he belongs. This can best be expressed in some wonderful words from an ancient writing in the Masters' Archives. It is said to date back to early Atlantean times. The material on which the writing is found is so old and so frail that all that the Masters themselves can touch and see is a precipitation made from it, the original being kept at Shamballa. It runs thus, with certain deletions, which it is wiser not to insert:
“Ở bốn góc của hình vuông, người ta nhìn thấy bốn … thiên thần (angelic …). Họ màu cam, nhưng bị che phủ trong ánh sáng màu hồng sẫm. Bên trong mỗi hình hài, người ta thấy ngọn lửa màu vàng, và chung quanh mỗi hình hài, người ta thấy … màu xanh (the blue …)
“At the four corners of the square, the four angelic…are seen. Orange they are, but veiled in rosy light. Within each form the yellow flame is seen and round each form the blue…
“Bốn thánh ngữ mà các ngài thốt ra, mỗi thánh ngữ cho một giống dân, nhưng không phải là âm thanh thiêng liêng sinh ra cái thứ bảy. Hai thánh ngữ đã mờ nhạt, bốn thánh ngữ ngân lên ngày nay. Một thánh ngữ ngân lên trong các cõi cao đến nỗi con người không thể nhập vào với tư cách con người. Như vậy bảy thánh ngữ của con người đang vang lên xung quanh hình vuông, chuyển từ miệng này sang miệng khác.
“Four words they utter forth, one for each human race, but not the sacred sound which bringeth forth the seventh. Two words have died away, four sound today. One sounds in realms so high that man can enter not as man. Thus are the seven words of man ringing around the square, passing from mouth to mouth.
“Mỗi ngày của con người, các thánh ngữ mang lấy hình thức và dường như khác nhau. Trong … các thánh ngữ sẽ là như sau:
“Each day of man the words take form and different seem. In…the words will be as follows:
“Từ phương Bắc, một thánh ngữ được ngân lên vốn có nghĩa là … là tinh khiết (means … be pure).
“From out the North a word is chanted forth which means…be pure.
“Từ phương Nam, một thánh ngữ vang (peals) ra: Tôi hiến dâng và…
“From out the South the word peals out: I dedicate and…
“Từ phương Đông, mang lại một ánh sáng thiêng liêng, thánh ngữ nhịp nhàng quanh hình vuông: Hãy thương yêu tất cả.
“From out the East, bringing a light divine, the word comes swinging round the square: Love all.
“Từ phương Tây, câu trả lời được đưa trở lại: Tôi phụng-sự”.
“From out the West, answer is thrown back: I serve.”
Đây là một nỗ lực yếu ớt để diễn đạt ra Anh ngữ những câu cú cổ xưa thời Atlantis, cổ hơn tiếng Bắc Phạn hoặc tiếng Senzar, và
This is a faint effort to express in English these ancient Atlantean phrases, older than Sanskrit or Senzar, and
