cần để trợ giúp cho tập thể, và tung ra ngay lập tức hướng tới mục đích đó những gì mà chân nhân đã có được như thế. Vị điểm đạo đồ không giữ gì cho chính mình; bậc cứu độ của nhân loại có thể sử dụng tất cả những gì được để dành trong kho dự trữ thiêng liêng, nhưng không phải cho chính ngài, mà là cho những ai mà ngài muốn giúp đỡ.
is needed for the helping of the group and releases at once towards that end that which he has thus acquired. The initiate holds nothing for himself; the saviour of the race may utilise all that is laid up in the divine storehouse but not for himself, only for those he seeks to help.
Với tư cách là các trung tâm lực, đôi bàn tay đóng một vai trò mạnh nhất, và là vai trò ít được hiểu biết. Việc mà đôi bàn tay của một vị đệ-tử (một khi y đã có được sự hoạch đắc vốn được dựa trên công việc tập thể vị tha) trở thành những tác nhân truyền năng lượng tâm linh là một sự thật huyền bí. Việc “đặt tay lên đầu một người nào đó để ban phúc” không phải là nhóm từ vô căn cứ, cũng không chỉ được giới hạn vào các hoạt động của hàng giám mục của bất kỳ tôn giáo nào. Về mặt huyền linh, việc đặt tay lên đầu có thể được nghiên cứu theo bốn khía cạnh:
As centres of force the hands play a most potent part, and one that is little understood. It is an occult fact that the hands of a disciple (once he has acquired that acquisitiveness which is based on unselfish group work) become transmitters of spiritual energy. The “laying on of hands” is no idle phrase nor confined solely to the operations of the episcopate of any faith. The occult laying on of hands can be studied in four aspects:
1. Trong việc chữa bệnh. Trong trường hợp này thần lực tuôn đổ qua hai bàn tay, đến từ hai cội nguồn, và xuyên qua hai bí huyệt dĩ thái, đó là lá lách và tim.
1. In healing. In this case the force which flows through the hands comes from a dual source and via two etheric centres, the spleen and the heart.
2. Trong việc kích thích bất kỳ bí huyệt đặc biệt nào. Năng lượng được dùng trong trường hợp này đến từ đáy xương sống và cổ họng, và phải được kèm theo bằng các linh từ thích hợp.
2. In the stimulation of any specific centre. The energy employed in this case comes from the base of the spine, and the throat, and must be accompanied by appropriate words.
3. Trong công việc liên kết một người với chân nhân (ego) của y. Thần lực được dùng ở đây phải được tiếp nhận từ ba bí huyệt dĩ thái: bí huyệt nhật tùng, bí huyệt tim và bí huyệt giữa hai chân mày.
3. In the work of linking a man up with his ego. The force used here must be received from three etheric centres, the solar plexus, the heart, and the centre between the eyebrows.
4. Trong công việc của nhóm. Ở đây năng lượng được sử dụng phát ra từ chân ngã, xuyên qua bí huyệt đầu, bí huyệt cổ họng và bí huyệt đáy xương sống.
4. In group work. Here energy is utilised emanating from the ego, via the head centre, the throat centre and the base of the spine.
Do đó, sẽ rõ ràng là Khoa Học về Bàn Tay là một Khoa Học rất thực tế, và vị đệ-tử phải tìm hiểu bản chất của các thần lực ở các bí huyệt khác nhau, làm thế nào để truyền tải và thống nhất chúng, và rồi bằng một tác động của ý chí, làm thế nào để chuyển chúng ra bên ngoài qua các luân xa (chakras) trong bàn tay. Đôi tay làm công việc của chúng hoặc một cách trực tiếp, hoặc thông qua sự phóng ra của một dòng chảy đều đặn một khi các luồng pha trộn đã được rút ra, hoặc gián tiếp, hoặc bằng tay. Nhờ
It will be apparent therefore that the Science of the Hands is a very real one and the disciple has to learn the nature of the forces in the different centres, how to transmit and unify them and then by an act of the will how to pass them outward through the chakras in the hands. The hands do their work either directly, or through the projection of a steady flow once the blended currents have been tapped, or indirectly, or by manipulation. Through
