của bản thể riêng của y. Như thế chỉ những linh hồn đó phát triển hoàn toàn thành các adepts trong bất kỳ thế hệ đặc biệt nào đó, họ vốn là những người đã “bước lên máy ép nho của cơn thịnh nộ của Thượng Đế một mình”, hay (nói cách khác) vốn đã trang trải nghiệp quả của họ một mình, và vốn đã chấp nhận một cách sáng suốt nhiệm vụ bước lên Thánh Đạo.
of his own being. Thus only those souls flower forth into adepts in any specific generation who have “trodden the winepress of the wrath of God alone” or who (in other words) have worked out their karma alone and who have intelligently taken up the task of treading the Path.
2. Tuân theo các xung lực bên trong của linh hồn. Các huấn sư của nhân loại làm tốt việc hướng dẫn vị điểm đạo đồ đang nảy nở thực hành tính phân biện, và huấn luyện y trong nhiệm vụ khó khăn của việc phân biệt giữa:
2. Obey the inward impulses of the soul. Well do the teachers of the race instruct the budding initiate to practise discrimination and train him in the arduous task of distinguishing between:
a. Bản năng và trực giác.
a. Instinct and intuition.
b. Thượng trí và hạ trí.
b. Higher and lower mind.
c. Dục vọng và sự thôi thúc tinh thần.
c. Desire and spiritual impulse.
d. Khát vọng ích kỷ và động cơ thiêng liêng.
d. Selfish aspiration and divine incentive.
e. Sự thôi thúc phát ra từ các nguyệt thần (lunar lords), và sự khai mở của Thái dương thần (solar Lord).
e. The urge emanating from the lunar lords, and the unfoldment of the solar Lord.
Đó không phải là nhiệm vụ dễ chịu hoặc tâng bốc lên để tự khám phá chính mình, và để phát hiện rằng có lẽ ngay cả việc phụng-sự mà chúng ta đã thực hiện và sự khát khao học hỏi và làm việc của chúng ta đã có một khởi nguyên cơ bản là ích kỷ, và dựa vào một sự mong muốn giải thoát hoặc một sự chán ghét những bổn phận nhàm chán mỗi ngày. Kẻ nào tìm cách tuân theo những sự thúc đẩy của linh hồn thì phải vun bồi một sự đúng đắn về tổng thể, và một sự trung thực với chính mình, điều này thực sự là hiếm hoi vào thời nay. Y hãy tự nói với chính mình: “Tôi phải chân thật với chính Bản Ngã của tôi”, và trong khoảnh khắc riêng tư của cuộc đời y, trong sự kín đáo của việc thiền định riêng của y, y không cho phép che đậy một lỗi lầm nào, và cũng không tha thứ cho mình theo chỉ một chiều. Y hãy học cách phán đoán những lời lẽ, hành động, và động cơ của chính y, và gọi đúng tên của các sự vật. Chỉ có như vậy thì y mới sẽ tự rèn luyện cho mình tính phân biện tinh thần và học cách nhận ra chân lý trong mọi sự vật. Chỉ có như vậy thì thực tại sẽ được đạt đến, và Chân Ngã sẽ được biết đến.
It is no easy or flattering task to find oneself out and to discover that perhaps even the service we have rendered and our longing to study and work has had a basically selfish origin, and resting on a desire for liberation or a distaste for the humdrum duties of everyday. He who seeks to obey the impulses of the soul has to cultivate an accuracy of summation and a truthfulness with himself which is rare indeed these days. Let him say to himself “I must to my own Self be true” and in the private moments of his life and in the secrecy of his own meditation let him not gloss over one fault, nor excuse himself along a single line. Let him learn to diagnose his own words, deeds, and motives, and to call things by their true names. Only thus will he train himself in spiritual discrimination and learn to recognise truth in all things. Only thus will the reality be arrived at and the true self known.
3. Không chú ý đến những sự cân nhắc khôn ngoan về khoa học và sự khôn khéo thuộc về thế tục. Nếu người tìm đạo cần phải trau dồi một khả năng để bước đi một mình, nếu y phải
3. Pay no consideration to the prudential considerations of worldly science and sagacity. If the aspirant has need to cultivate a capacity to walk alone, if he has to
