thời gian và ngoài thời gian, cho một nhất nguyên thiêng liêng (divine unity). Tà vạy là do sự nhận thức sai lầm và sự giải thích sai lầm về những gì được cảm nhận. Việc đạt tới nhãn quan đúng, cộng với sự hiểu biết đúng, mang đến việc thoát khỏi các phản ứng bản năng và gợi lên sự dứt bỏ nội tâm, nó cho phép một người bước đi tự do trong Thiên giới (kingdom of God).
time and out of time to a divine unity. Evil is due to wrong perception and erroneous interpretation of that which is perceived. The achievement of true vision, plus right understanding, brings about freedom from the instinctual reactions and evokes that inner detachment which enables a man to walk at liberty in the kingdom of God.
Nhưng cái nào trong hai cái sợ mà người tìm đạo có mối quan tâm đặc biệt? Nỗi sợ nào trong sự sợ hãi về dư luận quần chúng, và nỗi sợ thất bại? Đây là hai yếu tố mạnh mẽ trong cuộc đời phụng sự, và cản trở nhiều người.
But what of the two fears with which the aspirant has peculiar concern? What of the fear of public opinion, and fear of failure? These are two potent factors in the life of service, and hinder many.
Những người đang bắt đầu làm việc trong sự hợp tác với thiên cơ, và đang học hỏi ý nghĩa của việc phụng sự, dễ có khuynh hướng sợ rằng những gì họ làm sẽ bị chỉ trích và đánh giá sai, hoặc trở thành nạn nhân cho ý tưởng ngược lại rằng những gì họ làm sẽ không được ưa thích, không được coi trọng và không được hiểu biết một cách thích đáng. Họ cần sự ưa thích và sự tán dương. Họ đánh giá sự thành công bằng các con số và bằng sự hưởng ứng. Họ không thích các động cơ của họ bị công kích (impugned) và bị đánh giá sai, họ mạnh mẽ lao vào việc giải thích; họ không hài lòng nếu các phương pháp của họ, nhân sự trong nhóm của họ, và cách thức mà việc phụng sự của họ thể hiện bị đặt dưới miệng lưỡi chỉ trích. Các mục tiêu sai lầm của các con số, của quyền lực, hoặc của một học thuyết được đề ra đang kiểm soát họ. Trừ phi những gì họ làm đáp ứng với các tiêu chuẩn, hoặc phù hợp với kỹ thuật của nhóm trí tuệ đang bao quanh họ, hoặc thu hút nhiều người nhất đến với họ, bằng không thì họ không hài lòng và do đó thường xuyên thay đổi các kế hoạch của họ, thay đổi quan điểm, và hạ thấp tiêu chuẩn của họ cho đến khi nó phù hợp với tâm lý của quần chúng trước mắt họ, hoặc các cố vấn được lựa chọn của họ.
Those who are beginning to work in cooperation with the plan and are learning the significance of service are prone to fear that what they do will be criticised and misjudged, or fall a victim to the reverse idea that what they do will not be sufficiently liked, appreciated and understood. They demand liking and praise. They gauge success by numbers and by response. They dislike to have their motives impugned and misjudged, and rush violently into explanation; they are unhappy if their methods, the personnel of their group, and the way in which their service is rendered comes under the tongue of criticism. The false objectives of numbers, of power or of a formulated doctrine control them. Unless what they do measures up to the standards or conforms to the technique of the group of minds which surrounds them or appeals the most to them, they are unhappy and consequently frequently change their plans, alter their viewpoint, and lower their standard until it conforms to their immediate mass psychology, or their chosen counsellors.
Vị đệ-tử thực sự nhìn thấy được linh thị. Lúc đó, vị đệ-tử này tìm cách tiếp xúc thật mật thiết với linh hồn y, sao cho y có thể đứng vững vàng trong khi y nỗ lực để làm cho linh thị đó thành hiện thực; y nhắm đạt tới những gì mà theo quan điểm của thế gian thì dường như là không thể xảy ra, biết rằng linh thị đó không được thành hiện thực thông qua tính thủ đoạn và
The true disciple sees the vision. He then seeks to keep so closely in touch with his soul that he can stand with steadiness whilst he endeavours to make that vision a reality; he aims to achieve what, from the standpoint of the world seems to be impossible, knowing that the vision is not materialised through expediency and undue
