các gợi ý này thể hiện ra trong việc thiếu năng lực phụng sự và trong tình trạng lệ thuộc (thralldom) ngày càng tăng của thể xác. Nơi nào mà thể xác ở trong tình trạng yếu kém, thì người đệ-tử phải thêm các trách nhiệm gắn liền với việc đưa vào của mãnh lực mà y nhận thấy rằng chính y không thể xử lý.
of these suggestions works out in lack of power in service and in the growing thralldom of the physical body. Where the physical body is in poor condition, the disciple has to add the liabilities incident upon the bringing in of force which he finds himself unable to handle.
Điểm nguy hiểm thứ hai nằm trong ảo tưởng cảm dục mà tất cả nhân loại đều sống trong đó, và năng lực quyến rũ của nó ngay cả với người phụng sự dày dặn kinh nghiệm. Tôi đã xem xét điều này rất chi tiết trong bộ luận này, mà, như bạn biết, vốn là một bộ luận về sự kiểm soát thể cảm dục và là một sự hiểu biết chính xác các định luật của nó. Chỉ việc kiểm soát trí tuệ, cộng với nhận thức tâm linh đích thực, sẽ đủ để xuyên thấu chướng khí cảm dục hão huyền này, và mặc khải cho con người rằng y là một thực thể tâm linh đang hóa thân và đang tiếp xúc – qua thể trí của y – với Thiên Trí (Universal Mind). Hình phạt giáng xuống vị đệ-tử, kẻ luôn luôn tự cho phép mình bị mê hoặc, là hiển nhiên. Tầm nhìn của y trở nên bị che mờ và mơ hồ, và y “mất ý thức tiếp xúc” như nó được gọi trong các cổ luận. Y lang thang “xuống các ngõ ngách của kiếp sống và bỏ lỡ con đường chính thẳng tắp vốn sẽ dẫn y tới mục tiêu của y”.
The second point of danger is to be found in the astral illusion in which all humanity lives, and its power to glamour even experienced workers. I have considered this at length in this treatise, which is, as you know, a treatise on the control of the astral body and a right understanding of its laws. Only mental control, plus true spiritual perception, will suffice to pierce this illusory astral miasma, and reveal to the man that he is a spiritual entity in incarnation and in touch—through his mind—with the Universal Mind. The penalty which overtakes the disciple who persistently permits himself to be glamoured is obvious. His vision becomes fogged and misty and he “loses the sense of touch” as it is called in the old commentaries. He wanders “down the lanes of life and misses that straight highway which will lead him to his goal.”
Nguy hiểm thứ ba (và là nguy hiểm rất phổ biến vào lúc này) là nguy hiểm của tính tự cao về trí tuệ và việc thiếu khả năng tương ứng để làm việc trong việc hình thành nhóm. Hình phạt cho điều này thường thường là một sự thành công tạm thời và một hoạt động bị ép buộc với một nhóm, mà các yếu tố tốt nhất của nó đã bị suy nhược, và vốn chỉ có trong nó những người nuôi dưỡng phàm ngã của người đứng đầu nhóm. Vì chú trọng vào các ý tưởng riêng của y và các phương pháp làm việc riêng của y, một vị đệ-tử nhận thấy rằng nhóm của y thiếu những yếu tố và những người vốn sẽ bổ sung nó cho đầy đủ, vốn sẽ cân bằng nỗ lực của y, và cung cấp cho công cuộc của y những tính chất mà chính y thiếu. Trong bản thân sự việc thì đây là một sự trừng phạt đầy đủ, và nhanh chóng mang vị đệ-tử chân thật tới những cảm giác của y. Hãy để cho một vị đệ-tử
The third danger (and one that is very prevalent at this time) is that of mental pride and consequent inability to work in group formation. The penalty for this is often a temporary success and an enforced working with a group, which has been devitalised of its best elements and which has in it only those people who feed the personality of the head of the group. Because of the emphasis upon his own ideas and his own methods of working, a disciple finds that his group lacks those factors and those people who would have rounded it out, who would have balanced his endeavour, and given to his undertaking those qualities which he himself lacks. This is, in itself, a sufficient punishment, and quickly brings the honest disciple to his senses. Let a disciple who is
