3. Đáp ứng với bản năng đang chi phối thú tính và dục tính, và các khuynh hướng của con người.
3. Response to the instinct governing the animal and desire nature, and to human tendencies.
4. Đáp ứng với tập thể. Đứa trẻ trở nên ý thức được môi trường chung quanh và biết rằng em là thành phần của một toàn thể.
4. Response to the group. The child becomes aware of his environment and that he is an integral part of a whole.
5. Đáp ứng với sự hiểu biết. Điều này bắt đầu bằng việc truyền đạt các sự kiện có tác dụng nâng cao kiến thức, để ghi nhận những sự kiện này qua trí nhớ. Nhờ đó, có thể phát triển được sự quan tâm, tương quan, tổng hợp và áp dụng vào những trường hợp cấp bách trong cuộc sống.
5. Response to knowledge. This begins with the impartation of informative facts, and so to the registration, through the memory, of these facts; thus are developed interest, correlation, synthesis and application to the exigencies of the life.
6. Đáp ứng với nhu cầu bẩm sinh là tìm kiếm. Nhu cầu này đưa đến việc thực nghiệm ở cõi trần, sự nội quan ở cấp tình cảm, việc khảo cứu bằng trí năng, và ý thích đọc sách hay lắng nghe, khiến trí tuệ hoạt động trong một điều kiện nào đó.
6. Response to the innate need to search. This leads to experiment on the physical plane, to introspection on the emotional plane, and to intellectual study and a love of reading or of listening, thus bringing the mind into some condition of activity.
7. Đáp ứng với áp lực kinh tế và sức thôi thúc của tính dục, tức là đáp lại tác động của luật sinh tồn. Tác động này khiến mỗi người phải vận dụng các trang cụ và kiến thức của mình. Nhờ đó, y có được chỗ đứng với tư cách một nhân tố trong cuộc sống tập thể, nâng cao phúc lợi tập thể qua công tác tích cực nào đó, và bằng cách duy trì giống nòi.
7. Response to economic and sex pressure or to the law of survival. This forces him to use his equipment and knowledge and so take his place as a factor in the group life, and to promote group welfare by some aspect of active work and by the perpetuation of the species.
8. Đáp ứng với ý thức thuần trí tuệ. Điều này đưa đến việc sử dụng thể trí một cách tỉnh thức và tự do, những suy tư cá nhân, việc tạo hình tư tưởng. Rốt cuộc, trí tuệ liên tục hướng đến một lĩnh vực nhận thức và ý thức ngày càng rộng lớn hơn. Những sự triển khai tâm thức này cuối cùng mang lại một yếu tố mới cho phạm vi kinh nghiệm.
8. Response to pure intellectual awareness. This leads to a conscious free use of the mind, to individual thinking, to the creation of thoughtforms, and eventually to the steady orientation of the mind to a wider and wider field of realisation and awareness. These expansions of consciousness finally bring a new factor into the field of experience.
9. Đáp ứng với Chủ thể suy tưởng hay linh hồn. Khi ghi nhận được sự ứng đáp này, hành giả bước vào vương quốc của mình. Phần cao và phần thấp của đời sống trở thành một. Thế giới khách quan và thế giới chủ quan hợp nhất. Linh hồn và các thể (khí cụ của linh hồn) hoạt động như một đơn vị duy nhất.
9. Response to the Thinker or the soul. With the registration of this response, the man enters into his kingdom. The above and the below become as one. The objective and the subjective worlds are unified. Soul and its mechanism function as a unit.
Toàn cả nền giáo dục cần hướng đến sự thành tựu viên mãn này. Ngoại trừ một số ít trường hợp và các linh hồn tiến hóa cao,
Towards this consummation all education should tend. Practically speaking, except in rare and highly evolved souls,
