sự dung hợp chắc chắn xảy ra. Hai trạng thái thiêng liêng diễn ra trong tiến trình liên giao mật thiết. Đệ tử mang lại tình trạng liên hệ này bên trong hệ thống nhỏ bé của y, còn Hành Tinh Thượng Đế ở một mức độ rộng lớn hơn bên trong phạm vi ảnh hưởng và sự kiểm soát của Ngài. Trong tiến trình này, Ngài mang theo với Ngài tất cả bốn giới trong thiên nhiên. Đối với cả hai sự sống này—tiểu thiên địa và đại thiên địa—sự dung hợp này tạo ra Sự Biến Thân/ Hiển Biến (Transfiguration), tức điểm đạo thứ ba. Thượng Đế của một hành tinh thánh thiện đã đưa công việc thiêng liêng đi xa hơn, và đang bận tâm với công việc tổng hợp thành một đơn vị hoạt động và đáp ứng hữu thức, tức trạng thái thiêng liêng cao siêu, trạng thái của Chân Thần, tức trạng thái ý chí (will aspect). Khi điều này được hoàn thành, thì ý chí, tình thương và sự thông tuệ được phối hợp, lúc đó tinh thần, linh hồn và xác thân trở nên hợp nhất (at-one). Kế đến tính chất của biểu lộ thiêng liêng sẽ trở thành mục tiêu thiêng liêng, được thôi thúc bởi ý chí, được cổ vũ bởi tình thương và được xúc tiến với sự sáng suốt.
definite fusion is taking place. Two divine aspects are in process of intimate relation. The disciple brings about this relationship within his little system, and the planetary Logos on a far larger scale within His range of influence and control. In this process He carries with Him all the four kingdoms in nature. For both these lives—microcosmic and macrocosmic—this fusion produces Transfiguration, the third initiation. The Logos of a sacred planet has carried the divine work further along and is occupied with the task of synthesising into one unit of conscious response and activity, the higher divine aspect, that of the Monad, the will aspect. When this is accomplished, will, love and intelligence are blended and spirit, soul and body are at-one. Then the quality of the divine expression will be divine purpose, impulsed by will, motivated by love and carried forward with intelligence.
Ở đây các chiêm tinh gia nên ghi nhận rằng, trong công việc của họ, họ không xem xét đúng (khi bàn đến mười hai cung của linh hồn) để tìm coi có hành tinh thánh thiện hay không. Tác dụng của các ảnh hưởng của một hành tinh thánh thiện hoặc một hành tinh không thánh thiện thì rất khác nhau, vì một đàng sẽ tác động trước tiên đến sự sống trong ba cõi thấp; trong khi một hành tinh thánh thiện sẽ giúp trong các tiến trình tác động đến sự dung hợp của linh hồn và xác thân, của tâm thức và hình tướng; nó cũng sẽ tạo ra sự thúc đẩy nhanh trực giác (hồn tinh thần, spiritual soul) vốn là trạng thái thấp của Monad (Chân Thần). Như bạn biết, có 7 hành tinh thánh thiện:
Astrologers should here note that, in their work, they have not duly taken into consideration (when dealing with the twelve houses or mansions of the soul) whether the planet is sacred or not. The effect of the influences of a sacred planet or a non-sacred one are very different, for one will affect primarily the life in the three worlds whilst a sacred planet will aid in the processes of affecting the fusion of soul and body, of consciousness and form; it will also produce the quickening of the intuition (the spiritual soul) which is the lower aspect of the Monad. The sacred planets are, as you know, seven in number:
| | | |
|---|---|---|
| 1. Vulcan 1. Vulcan | | 4. Mộc Tinh 4. Jupiter |
| 2. Thuỷ Tinh 2. Mercury | | 5. Thổ Tinh 5. Saturn |
| 3. Kim Tinh 3. Venus | | 6. Hải Vương Tinh 6. Neptune |
| | 7. Thiên Vương Tinh 7. Uranus | |
