xảy ra và đệ tử (vì con người giờ đây trở thành đệ tử) leo lên Thập Giá Cố Định.
takes place and the disciple (for such the man now is) mounts the Fixed Cross.
Trạng thái trên đúng với từng đệ tử và ngày nay cũng đúng đối với nhân loại nói chung, và—như Tôi thường nhắc nhở bạn—chính tiến trình khấn nguyện này đang xảy ra trong gia đình nhân loại. Tiến trình này tạo ra cuộc khủng hoảng tệ hại ngày nay. Hai giai đoạn được phác thảo trên đây hiện đang có ý nghĩa mạnh mẽ và rộng rãi trong nhân loại.
The above is true of the individual disciple and also today of humanity as a whole, and—as I have oft told you—it is this process of invocation which is taking place in the human family. This produces the present dire crisis. The two stages above outlined are present today in a general and potent sense in mankind.
Chính sự thừa nhận hai giai đoạn này trong nhân loại, đã dẫn dắt Tôi, dưới sự chỉ đạo của Thánh Đoàn, công bố—vào các thời điểm riêng rẽ cách xa nhau trong thời gian—hai đoạn thần chú huyền bí vĩ đại. Đoạn thứ nhất, được dùng trong năm 1936, nói đến hoài bão tổng quát mơ hồ của đa số con người trên thế gian, mà ngày nay đang mạnh mẽ hơn từ trước đến giờ, và đang trở nên tập trung hơn hướng về hạnh phúc thật sự.
It was the recognition of these two stages in humanity which led me, under instruction from the Hierarchy, to give out—at widely separated points in time—two stanzas of a great occult mantram. The first stanza, used in 1936, referred to the vague general aspiration of the mass of the people in the world, which is today more pronounced than ever before and becoming more focussed towards true well-being.
ĐẠI KHẤN NGUYỆN
THE GREAT INVOCATION
Mong cho các Huyền Lực của Linh Quang đem giác ngộ cho nhân loại.
Let the Forces of Light bring illumination to mankind.
Mong sao Tinh Thần Hoà Bình được lan rộng nơi nơi.
Let the Spirit of Peace be spread abroad.
Ước sao người có thiện tâm khắp nơi hội ngộ trong tinh thần hợp tác.
May men of goodwill everywhere meet in a spirit of cooperation.
Ước sao lòng thứ tha của mọi con người là chủ âm vào lúc này.
May forgiveness on the part of all men be the keynote at this time.
Mong cho quyền năng dự vào các nỗ lực của Các Đấng Cao Cả.
Let power attend the efforts of the Great Ones.
Mong được như nguyện, và xin giúp chúng con làm phần chúng con.
So let it be, and help us to do our part.
Công dụng của đoạn thứ nhất này trở nên thành công trước mắt và gặp được sự đáp ứng hoàn toàn từ nơi những người tốt lành và có hảo ý mà tiêu điểm của họ hầu như có tính chất cảm dục (astral) và có tính chất hoài bão, còn mục tiêu của họ là an bình và tĩnh lặng. Sự an bình và tĩnh lặng này chuẩn bị “lĩnh vực tâm thức” mà hoài bão có thể phát triển mạnh trong đó, sự thư thái vật chất và tình cảm có thể được đạt tới, và sự nhận thức về linh thị thần bí trở nên dễ xảy ra.
The use of this first stanza was immediately successful and met with a full response from those good and well-meaning people whose focus is predominantly astral and aspirational, and whose aim is peace and quiet. This peace and quiet provides the “area of consciousness” in which aspiration can flourish, physical and emotional comfort can be attained and the recognition of the mystical vision becomes possible.
