Đại Khấn Nguyện tương đối bị giới hạn. Nó bị khước từ (đôi khi hầu như một cách dữ dội) bởi hạng người dễ cảm xúc (emotional type) họ có thể thấy không xa hơn cái đẹp của an bình—mục tiêu của biểu lộ trên cõi cảm dục. Cái nhìn của họ đối với tổng thể vĩ đại hơn và đối với thỉnh nguyện về ý-chí-hướng-thiện (đó không phải là ý-chí-hướng-đến-an-bình—will-to-peace) thì cực kỳ giới hạn, và điều này do không có một lỗi lầm nào của chính họ. Đơn giản là nó chỉ ra vị trí của chúng trên thang tiến hoá và đánh dấu một thời điểm phụng sự tương đối hữu ích, nhưng là một thời điểm đang ở trong tiến trình được siêu việt. Con người trong thế giới ngày nay đang tiến đến chỗ nhận thức (nhờ đau khổ và sự cân nhắc theo sau) rằng có một điều gì đó còn to tát hơn cả sự an bình và đó là sự tốt lành của toàn thể chứ không chỉ các tình trạng an bình cá nhân hoặc yên bình của quốc gia. Việc tái-định-hướng này của tâm thức con người được mang lại bằng thái độ kiên quyết của các linh hồn con người, được tập trung và được phối trọn, được tổ chức và hội tụ bằng cái nhìn xuất phát từ phúc lợi chung của nhân loại.
the Great Invocation was relatively limited. It was repudiated (almost violently sometimes) by the emotional type of person who could see no further than the beauty of peace—the goal of expression upon the astral plane. Their vision of the greater whole and of the evocation of the will-to-good (which is not the will-to-peace) was exceedingly limited and this through no fault of their own. It simply indicated their place upon the ladder of evolution and marked a relatively useful point of service, but one which is in process of being transcended. The people in the world today are coming to realise (through suffering and its consequent reflection) that there is something greater than peace and that is the good of the whole, and not just individual, peaceful conditions or national peace. This re-orientation of the human consciousness is brought about by the determined attitude of the souls of men, massed and blended, organised and focussed by the vision of the general welfare of humanity.
Tuy nhiên, điều cốt yếu là các phân biệt này nằm trong thái độ sẽ xuất hiện với độ rõ ràng của chúng và, do đó, chúng ta nêu ra hai khổ của Bài Đại Khấn Nguyện một cách riêng biệt và vào các thời điểm khác nhau. Nhờ đó bạn học được sự dị biệt của thái độ giữa đa số con người có thiện ý trên thế giới với các thái độ định hướng chính xác của những người tìm đạo và các đệ tử sáng suốt. Tất nhiên điều này đi trước hành động rộng lớn có thể xảy ra sau này. Tôi xin tạm ngừng ở đây và nhắc nhở bạn rằng cả hai nhóm đều cần thiết: nhóm thứ nhất—thiên về tình cảm và thuộc chủ nghĩa lý tưởng—có một phần đóng góp trong việc tập trung hoài bão uyển chuyển của quần chúng. Trách nhiệm của họ là trách nhiệm đối với quảng đại quần chúng. Nhóm kia gồm có các tư tưởng gia lão luyện và những người có huấn luyện, trước tiên họ được kích hoạt bằng ý-chí-hướng-thiện (vốn có tầm quan trọng trong chu kỳ thế giới này nhiều hơn là ý-chí-hoà-bình) có nhiệm vụ tiến hành bằng sự đáp ứng với Thánh Đoàn để
It was, however, essential that these distinctions in attitude should appear in their clarity and, therefore, we gave out the two stanzas of the Great Invocation separately and at different times. You learnt thereby the difference of attitude between the mass of well-meaning people in the world, and the correctly oriented attitudes of the intelligent aspirants and disciples. This was necessary before wider action could later take place. I would pause here and remind you that both groups are necessary: the first group—emotional and idealistic—have a part to play in focussing the mass fluid aspiration. Their responsibility is to the general public. The other group of trained thinkers and people who are animated primarily by the will-to-good (which is of more importance in this world cycle than the will-to-peace) have a function to carry out in evoking hierarchical response in
