hay lá tâm thức tận dụng tri thức được hoạch đắc dần dần để đạt được sự tách rời khỏi hình tướng, cơ quan nhận thức.
or consciousness utilises the gradually acquired knowledge to achieve detachment from the form, the organ of perception.
3. Giai đoạn mà trong đó minh triết được chuyển hoá thành toàn tri (omniscience), đồng thời cả tâm thức lẫn sắc tướng đều được thay thế bằng Đấng Duy Nhất, Ngài hiện hữu, Ngài hữu thức nhưng Ngài vẫn vĩ đại như là một trong hai giai đoạn của sự sống thiêng liêng. Đấng Duy Nhất này muốn lâm phàm (wills to incarnate), muốn hiểu biết (wills to know), muốn được có ý thức (wills to be conscious), nhưng lại không có giai đoạn nào trong số các giai đoạn này thiết yếu, nhận thức được chúng, trước khi biểu lộ.
3. The stage wherein wisdom is transmuted into omniscience and both consciousness and form are superseded by the One Who exists, Who is conscious, but Who remains as greater than either of these two phases of divine life. This One wills to incarnate, wills to know, wills to be conscious, but is none of these phases essentially, having realised them, prior to manifestation.
Ý chí Cung III này là chủ thể sáng tạo (producer) của sự tổng hợp bên ngoài trong các giai đoạn kế tiếp, được tiến hành từ các tổng hợp tạm thời cho đến khi có sự thống nhất hoàn toàn giữa tâm thức với hình hài, và sau đó sự nhất quán hoàn toàn được nhận biết giữa Cái Đó vốn không phải là tâm thức, cũng chẳng phải hình tướng mà là Đấng Sáng Tạo (Creator) của cả hai và là Nguyên Khí liên kết của tinh thần-vật chất. Người ta sẽ nhận thấy làm thế nào mà định nghĩa nói trên chứng minh chức năng của Cung III chính là ý-muốn-khởi-xướng (will-to-initiate) trên cõi trần những gì sẽ biểu hiện thánh linh (divinity, tức Ngôi Ba của Thượng Đế - ND); thế là không những nó xác định hiện tượng/bề ngoài (appearance) mà còn tiết lộ cả tính chất mà cái bề ngoài là kết quả của tính chất đó, và vốn có sẵn trong hai đề xuất (propositions) dẫn tới đề xuất thứ ba, đề xuất sau cùng này trình bày rằng ý chí sáng tạo này không chỉ là nguyên nhân của biểu lộ và cái đảm bảo của thành tựu, mà cũng còn là bằng chứng của sức mạnh của Sự Sống đó, nó bao giờ cũng đánh bại và huỷ diệt cái chết. Thế nên chúng ta trở lại với đề xuất mở đầu của chúng ta về tam nguyên thiêng liêng đó gồm có Sự Sống-Tính Chất-Sắc Tướng (đã được xét trong các trang mở đầu của quyển I); cũng thế dành cho tính chất sáng tạo của ba Cung năng lượng chính; cũng thế đối với liên hệ cản bản của chúng và như thế đối với sự tổng hợp kéo dài và bền bĩ của chúng. Phạm vi của sự khai mở được hoàn tất; chu kỳ được hoàn thành, con rắn vật chất, con rắn minh triết và con rắn của sự sống được nhìn thấy trở thành tổng thể duy nhất
This third ray will is the producer of external synthesis in successive stages, carried forward from temporary syntheses until there is complete unification between consciousness and form and later complete atonement realised between That which is neither consciousness nor form but the Creator of both and the relating Principle of spirit-matter. It will be seen how the above definition shows the function of the third ray to be the will-to-initiate on the physical plane that which will express divinity; that it defines not only appearance but the revelation of that quality of which the appearance is the effect or result, and that inherent in these two propositions lies the third which states that this creative will is not only the cause of manifestation and the guarantee of achievement, but is also the proof of the potency of that Life which ever defeats and annihilates death. So, we come back to our initial proposition of that divine trinity of Life-Quality-Appearance (considered in the opening pages of Volume I); thus also to the creativity of the three major rays; thus to their basic relation and thus to their enduring and persistent synthesis. The circle of revelation is rounded out; the cycle is completed; the serpent of matter, the serpent of wisdom and the serpent of life are seen to be one
