bước vào cuộc sống tương đối đơn giản của điểm đạo đồ. Câu đó có làm cho bạn ngạc nhiên không? Bạn cần nhớ rằng điểm đạo đồ sau cuộc điểm đạo thứ hai, đã tự giải thoát y ra khỏi các phức cảm của sự kiểm soát tình cảm và cảm dục. Ảo cảm không còn chế ngự y nữa. Y có thể đứng một cách vững chắc mặc dù y có thể làm và cảm nhận mọi thứ. Y nhận thức rằng tình trạng chu kỳ có liên quan tới các cặp đối lập và là một phần của sự biểu lộ sự sống của chính sự hiện tồn. Trong tiến trình học hỏi điều này, y trải qua các khó khăn lớn lao. Với tư cách là một linh hồn, y bắt buộc y phải chịu một sự sống hướng ra ngoài, của ảnh hưởng từ tính và của sự hướng ngoại. Y có thể đi theo điều này ngay lập tức với một đời sống của sự triệt thoái, của sự thiếu quan tâm bề ngoài vào các mối quan hệ của y và môi trường xung quanh, và với một sự biểu lộ nội quan, hướng nội mãnh liệt. Giữa hai thái cực này, y có thể lúng túng một cách đau buồn—đôi khi trong nhiều kiếp sống—cho đến khi y học cách hợp nhất và phối trộn cả hai sự biểu lộ. Lúc bấy giờ, cuộc sống hai mặt của đệ tử nhập môn, trong các cấp độ và các giai đoạn khác nhau của nó, trở nên rõ ràng đối với y, y biết y đang làm gì. Một cách thường xuyên và có hệ thống, cả hướng ngoại lẫn hướng nội, phụng sự trong thế gian và sống cuộc đời trầm tư, đóng vai trò hữu dụng của chúng.
enters upon the relatively simple life of the initiate. Does that phrase astonish you? You need to remember that the initiate has freed himself, after the second initiation, from the complexities of emotional and astral control. Glamour can no longer overpower him. He can stand with steadfastness in spite of all that he may do and feel. He realises that the cyclic condition is related to the pairs of opposites and is part of the life manifestation of existence itself. In the process of learning this, he passes through great difficulties. He, as a soul, subjects himself to a life of outgoing, of magnetic influence and of extroversion. He may follow this immediately with a life of withdrawal, of apparent lack of interest in his relationships and environment, and with an intense introspective, introverted expression. Between these two extremes he may flounder distressingly—sometimes for many lives—until he learns to fuse and blend the two expressions. Then the dual life of the accepted disciple, in its various grades and stages, becomes clear to him; he knows what he is doing. Constantly and systematically, both outgoing and withdrawing, serving in the world and living the life of reflection, play their useful part.
Nhiều khó khăn về tâm lý nảy sinh trong khi tiến trình này được chủ trị, đưa đến những sự phân cấp tâm lý, cả bề sâu lẫn bề mặt. Mục tiêu của mọi phát triển là sự tích hợp—sự tích hợp như một phàm ngã, sự tích hợp với linh hồn, sự tích hợp vào Thánh Đoàn, sự tích hợp với Tổng Thể (the Whole), cho đến khi sự thống nhất và sự đồng nhất hóa hoàn toàn đã được đạt đến. Để quán triệt khoa học về sự tích hợp này có mục tiêu căn bản là sự đồng nhất với Thực Tại Duy Nhất, đệ tử tiến bộ từ sự hợp nhất này đến sự hợp nhất khác, tạo ra lỗi lầm, thường đi đến sự ngả lòng hoàn toàn, đồng nhất hóa chính y với những gì không đáng mong muốn, cho đến khi, với tư cách linh hồn–phàm ngã (soul-personality) y khước từ các mối quan hệ trước kia; y trả giá
Many psychological difficulties arise whilst this process is being mastered, leading to psychological cleavages, both deep-seated and superficial. The goal of all development is integration—integration as a personality, integration with the soul, integration into the Hierarchy, integration with the Whole, until complete unity and identification has been achieved. In order to master this science of integration whose basic goal is identity with the One Reality, the disciple progresses from one unification to another, making mistakes, arriving often at complete discouragement, identifying himself with that which is undesirable until, as soul-personality, he repudiates the earlier relationships; he pays
