Karma mà thôi. Luật Nhân Quả sẽ không được hiểu như hiện nay chúng ta đang diễn giải nó. Để minh họa, có một định luật gọi là Luật Hấp Dẫn đã tự áp đặt nó từ lâu lên thể trí của con người. Một định luật tồn tại như vậy, nhưng nó chỉ là một khía cạnh của một định luật lớn hơn, và như chúng ta biết, quyền năng của nó có thể bị hóa giải một cách tương đối, vì mỗi lần mà chúng ta nhìn thấy một chiếc phi cơ bay vút qua đầu, chúng ta thấy một minh chứng của sự hóa giải định luật này bằng phương tiện cơ khí, tượng trưng sự dễ dàng mà con người có thể vượt qua định luật này. Nếu họ chỉ có thể nhận thức điều đó, thì họ đang học kỹ thuật cổ xưa mà năng lực khinh thân là một trong các bài tập mở đầu dễ dàng nhất và đơn giản nhất của kỹ thuật đó.
of Karma. The Law of Cause and Effect is not to be understood as we now interpret it. There is, to illustrate, a law called the Law of Gravitation, which has long imposed itself upon the minds of men; such a law exists, but it is only an aspect of a greater law, and its power can be, as we know, relatively offset, for each time that we see an aeroplane soaring overhead, we see a demonstration of the offsetting of this law by mechanical means, symbolising the ease with which it can be surmounted by human beings. If they could but realise it, they are learning the ancient technique of which the power to levitate is one of the easiest and simplest initial exercises.
Luật Hậu Quả (Law of Consequences) không phải là vấn đề không thể tránh và đã được sắp đặt mà tư tưởng hiện đại ức đoán, nhưng nó liên quan đến các Định Luật Tư Tưởng mật thiết hơn nhiều so với người ta đã tin; khoa học về trí tuệ đã đang mò mẫm hướng về việc tìm hiểu Luật này. Sự định hướng và các mục tiêu của khoa này thì đúng đắn và tốt đẹp, và hy vọng có các kết quả; các kết luận và các cách làm việc của khoa học này hiện tại lỗi lầm một cách đáng tiếc và hầu như đi sai đường.
The Law of Consequences is not the inevitable and set affair which modern thought surmises, but is related to the Laws of Thought far more closely than has been believed; towards an understanding of this, mental science has been groping. Its orientation and purposes are right and good and hopeful of results; its conclusions and modes of work are at present woefully at fault, and most misleading.
Tôi đã đề cập đến việc hiểu sai Luật Karma vì tôi nóng lòng cho các bạn bắt đầu việc nghiên cứu các Định Luật Chữa Trị này với một thể trí phóng khoáng và cởi mở càng nhiều càng tốt, hãy nhận thức rằng sự hiểu biết của bạn về các luật này bị giới hạn bởi:
I have referred to this misunderstanding of the Law of Karma as I am anxious to have you set out on this study of the Laws of Healing with a free and open mind as far as may be, realising that your understanding of these laws is limited by:
1. Các thần học cổ xưa, với các quan điểm không thay đổi, bị biến dạng và sai lầm. Giáo lý thần học hầu hết sai lạc, nhưng than ôi, lại thường được chấp nhận.
1. Old theologies, with their static, distorted, and erroneous points of view. The teaching of theology is most misleading, but is, alas, generally accepted.
2. Tư tưởng của thế gian, bị nhuốm màu mạnh mẽ với yếu tố dục vọng, và có rất ít tư tưởng chân chính trong đó. Con người lý giải các định luật được cảm nhận mơ hồ này dưới dạng hành động cuối cùng và theo quan điểm tầm thường của họ. Thí dụ như ý tưởng về sự thưởng phạt lan tràn khắp nhiều giáo lý về Karma, bởi vì con người tìm kiếm một sự giải thích đáng tin cậy về các sự việc như
2. World thought, strongly tinged with the desire element, and with little in it of real thought. Men interpret these dimly sensed laws in terms of finality and from their little point of view. The idea of retribution runs through much of the teaching on Karma, for instance, because men seek a plausible explanation of things as
