mọi xứ để đồng hóa người Do Thái, để có hôn nhân dị chủng với họ, và để từ chối nhận thức như các chướng ngại vật các tập quán cũ của tư tưởng và các mối quan hệ xấu cổ xưa. Con người ở khắp nơi phải xem đó như là một vết nhơ trên tính nguyên vẹn quốc gia của họ, nếu có sự xuất hiện trong các biên giới của họ nhị nguyên cũ—Do Thái và phi Do Thái. Không có người Do Thái mà cũng không có người phi Do Thái; chỉ có Nhân Loại duy nhất. Cuộc thế chiến (1914—1945) nên được xem như đã mang lại một sự kết thúc việc thù địch xưa giữa người Do Thái và phi Do Thái, và hai nhóm hiện nay có cơ hội để khởi đầu một biện pháp sinh hoạt mới mẻ hơn và hạnh phúc hơn, và một mối quan hệ hợp tác chân thật trên cả hai phía. Tiến trình đồng hóa sẽ chậm, vì tình trạng có niên đại quá cổ xưa đến nỗi các thói quen tư tưởng, các thái độ thông thường và các thói quen chia rẽ được thiết lập rõ ràng, và khó vượt qua. Nhưng các thay đổi cần thiết có thể được tạo ra nếu thiện chí điều khiển lời nói, việc trình bày bằng chữ viết và cách sinh hoạt cùng nhau. Thánh Đoàn không thấy có sự phân biệt nào. Vị Lãnh Đạo của Thánh Đoàn, mặc dù không ở trong thân xác người Do Thái vào lúc này, đã đạt đến mục tiêu tinh thần cao nhất cho nhân loại trong khi ở trong một hiện thể Do Thái. Thánh Đoàn cũng đang gửi vào các thể xác Do Thái một số vị đệ tử sẽ làm việc với ý định đầy đủ vào lúc thay đổi tình thế. Ngày nay, có một số ít người Do Thái không suy tư dưới dạng là người Do Thái; họ không bận tâm với vấn đề Do Thái, để loại trừ mọi thứ khác, và họ đang nỗ lực để hòa nhập mọi người thành một nhân loại duy nhất, như vậy lấp đi lỗ hổng.
every country to assimilate the Jews, to inter-marry with them, and to refuse to recognise as barriers old habits of thought and ancient bad relations. Men everywhere must regard it as a blot upon their national integrity if there is the appearance within their borders of the old duality—Jew and Gentile. There is neither Jew nor Gentile; there is only Humanity. This war (1914-1945) should be regarded as having brought to a conclusion the ancient enmity between Jew and Gentile, and the two groups have now the opportunity to originate a newer and happier measure of living and a truly cooperative relation on either side. The process of assimilation will be slow, for the situation is of so ancient a date that habits of thought, customary attitudes and separative customs are well established and hard to overcome. But the needed changes can be made if goodwill directs the spoken word, the written presentation and the mode of living together. The Hierarchy sees no distinction. The Head of the Hierarchy, though not in a Jewish body at this time, achieved the highest spiritual goal for humanity whilst in a Jewish vehicle. The Hierarchy is also sending into Jewish bodies certain disciples who will work with full intent at the changing of the situation. There are Jews today, a few in number, who do not think in terms of being Jews; who are not preoccupied with the Jewish problem to the exclusion of all else, and who are endeavouring to fuse all people into one humanity, thus bridging the gap.
Tôi nói lại lần nữa rằng các Chân Sư Minh Triết không nhìn thấy người Do Thái hay phi Do Thái, mà chỉ có các linh hồn và các con của Thượng Đế.
Again, I say, that the Masters of the Wisdom see neither Jew nor Gentile, but only souls and sons of God.
Khi bàn đến chủ đề nghiệp quả như là một yếu tố—có tính quyết định và lâu dài trong cả bệnh tật và sức khỏe—một trong những lời phê bình mà sự tiếp cận của tôi phải chịu, đó là tôi bàn quá nhiều vào các điều khái quát, và tôi không đưa ra sự phân tích cụ thể và chi tiết về các bệnh đặc biệt, nhất là
In dealing with the subject of karma as a factor—decisive and lasting in both disease and health—one of the criticisms to which my approach is subjected is that I deal too much with generalities and that I give no specific and detailed analysis of particular diseases, particularly of the great
