a. Qua một sự xem xét mối liên quan hoạt động hiệu quả hiện có giữa các nhóm môn đồ đang làm việc dưới sự hướng dẫn của các Ngài.
a. Through a consideration of the effective working relation which exists between the groups of disciples working under Them.
b. Qua một sự nghiên cứu những người (và họ rất đông) có một phàm ngã cung 1 và một Chơn ngã cung 2, hoặc ngược lại.
b. Through a study of those people (and they are many) who have a first ray personality and a second ray ego, or vice versa.
Xét cho cùng, hỡi huynh đệ, chúng ta mang lại việc phân phối thần lực đúng đắn, đưa đến các liên hệ hài hòa, khi chúng ta tìm cách sống một cách vị tha. Đối với đệ tử dự bị, điều này có nghĩa là một hoạt động vị tha được áp đặt trên cõi trần. Đối với đệ tử nhập môn, điều đó hàm ý một kiếp sống không còn mọi tình cảm ích kỷ, duy ngã (self-centered), và trong số các điều này, tính tự thương thân và tính tự bi thảm hóa (self-dramatisation) là các thí dụ nổi bật; đối với điểm đạo đồ, điều đó có nghĩa là một thái độ trí tuệ không có tư tưởng ích kỷ, và không có những sự bi thảm hóa trong tư tưởng của chân ngã.
In the last analysis, my brother, we bring about the correct distribution of force, leading to harmonious relations, when we seek to live selflessly. For the probationer, this means an imposed selfless activity upon the physical plane. For the accepted disciple, it involves a life free from all selfish, self-centered emotion, and of these self-pity and self-dramatisation are outstanding examples; for the initiate it means a mental attitude which is devoid of selfish thought, and free from the dramatisations in thought of the ego.
Về sự đau đớn (on suffering)
On Suffering.
Xét cho cùng, sự đau đớn chỉ xảy ra khi linh hồn đồng nhất hóa với xác thân, hay đúng hơn, khi trạng thái tinh thần của linh hồn (trong thể xác) bị đồng nhất hóa với sinh hồn (animal soul) vốn thấm nhuần và truyền sinh khí cho hình hài và tạo nên sự sống tạm thời của hình hài. Trong trạng thái vô thức, sinh hồn ý thức sự khổ sở và đau đớn, những người săn sóc và trông coi bệnh nhân biết rõ điều này, nhưng không có khổ sở đích thực hoặc buồn phiền (distress) đích thực, bởi vì Chân nhân, hồn tinh thần (spiritual soul) đã bị xua khỏi hoặc do sự đau đớn quá độ (như trong trạng thái vô thức thực sự) hoặc do thuốc mê.
Suffering, in the last analysis, is only possible when the soul is identified with the body, or rather, when the spiritual aspect of the soul (in the body) is identified with the animal soul, which informs and vitalises the form and constitutes its temporary life. During unconsciousness, the animal soul is aware of pain and suffering, and those who nurse and watch know this well, but there is no real pain or true distress because the real man, the spiritual soul, has been driven away either by excessive pain (as in true unconsciousness) or by narcotics.
Sự đau khổ của linh hồn, khi phàm ngã lạc đường, chỉ là một cách nói tượng trưng. Không có sự đau khổ hoặc đau đớn thực sự nào, và thường thường, không có sự hiểu biết về sự việc xảy ra, vì rung động không đủ cao để nhập vào cõi cao nơi mà linh hồn an ngự. Tuy nhiên, nơi nào
The suffering of the soul, when the personality goes astray, is only a symbolic form of words. There is no pain or true suffering, and frequently no knowledge of the happening, for the vibration is not high enough to penetrate into that high plane where dwells the soul. Where, however,
