hiểu biết—khi trong tiến trình đưa ra việc chữa trị—liệu việc chữa trị xác thân có được phép hay không. Bằng cách xem xét, y có thể thấy liệu nguyên khí ý chí của sự trừu xuất, mà tôi đã nhắc đến, có đang hiện hữu một cách linh hoạt hay không. Cùng một tiến trình có thể được thấy đang xảy ra trong các tổ chức và các nền văn minh mà trong đó khía cạnh hình hài đang bị hủy diệt để cho sự sống có thể được tách ra, và sau đó lại kiến tạo cho chính nó một hình hài thích hợp hơn. Điều đó tương tự dưới các tiến trình điểm đạo lớn, vốn không chỉ là các tiến trình mở rộng tâm thức mà được bắt rễ trong cái chết hoặc tiến trình triệt thoái, đưa đến việc phục sinh và thăng thiên.
to know—when in process of bestowing healing—whether the physical healing of the body is permissible or not. He can see, by looking, whether the will principle of abstraction, to which I have been referring, is actively present or not. The same process can be seen taking place in organisations and in civilisations in which the form aspect is being destroyed in order that the life may be abstracted and later again rebuild for itself a more adequate form. It is the same under the great processes of initiation, which are not only processes of expanding the consciousness but are rooted in the death or the abstraction process, leading to resurrection and ascension.
Những gì gây ra một sự thay đổi là một sự giải tán (dùng cụm từ hoàn toàn không thích hợp) năng lượng ý chí có điều khiển và có tập trung. Việc này có tính chất từ tính đến nỗi nó kéo về chính nó sự sống của các bí huyệt, mang lại sự tan rã của hình hài nhưng giải thoát (release) sự sống. Cái chết đến với con người cá nhân theo nghĩa thông thường của thuật ngữ khi ý-chí-muốn-sống trong một xác thân không còn, và ý-muốn-tách-ra (will-to-abstract) chiếm vị trí của nó. Chúng ta gọi đó là sự chết. Trong các trường hợp chết trong chiến tranh chẳng hạn, lúc đó không phải là một trường hợp ý-chí-triệt-thoái của cá nhân, mà là một sự tham gia bị bắt buộc vào một sự trừu xuất tập thể. Từ chốn riêng của nó, linh hồn của con người cá nhân nhận thức việc kết thúc chu kỳ lâm phàm, và triệu hồi sự sống của nó. Nó làm việc này qua một việc giải tán năng lượng ý chí đủ mạnh để mang lại thay đổi… Đức Christ có nói đến việc trừu xuất này về trung tâm hành tinh lớn thứ ba, là Nhân Loại, khi Ngài phán (và Ngài đang nói với tư cách Đấng Đại Diện Thánh Đoàn, là trung tâm hành tinh thứ hai, mà mọi người được điểm đạo được “triệt thoái” vào đó về mặt huyền bí) “Nếu Ta được nâng lên, Ta sẽ kéo mọi người đến với Ta”. Một lời khác với lời này của Ngài sẽ được phán ra vào cuối kỷ nguyên, khi Đức Chưởng Quản Địa Cầu sẽ phán từ Shamballa
That which effects a change is a discharge (to use a totally inadequate phrase) of directed and focussed will-energy. This is so magnetic in quality that it draws to itself the life of the centres, bringing about the dissolution of the form but the release of the life. Death comes to the individual man in the ordinary sense of the term when the will-to-live in a physical body goes and the will-to-abstract takes its place. This we call death. In cases of death in war, for instance, it is not then a case of the individual will-to-withdraw, but an enforced participation in a great group abstraction. From its own place, the soul of the individual man recognises the end of a cycle of incarnation, and recalls its life. This it does through a discharge of the will-energy that is strong enough to bring about the change….Christ referred to this work of abstraction as regards the third great planetary centre, Humanity, when He said (and He was speaking as the Representative of the Hierarchy, the second planetary centre, into which all human beings achieving initiation are “withdrawn” esoterically), “I, if I be lifted up, will draw all men unto Me.” A different word to this word of His will be spoken at the end of the age when the Lord of the World will speak from Shamballa
