và không có sự hiểu biết thực sự nào về các kỹ thuật cần noi theo. Hiểu được điểm quan trọng này thật là sáng suốt, vì nó sẽ vô hiệu hóa nỗi thất vọng. Từ một thế giới trong giai đoạn trước mắt mở ra Kỷ Nguyên Mới, bệnh tật sẽ không đột nhiên tan biến như có phép lạ. Nếu xảy ra điều đó, thì các hàm ý sẽ là Luật Karma không còn kiểm soát nữa, và đây không phải là trường hợp này.
and no real understanding of the techniques to be followed. It is wise to grasp this important point, for it will negate disappointment. Disease is not going to disappear miraculously and suddenly from a world in the immediate period, heralding the New Age. If it did, the implications would be that the Law of Karma no longer controlled, and this is not the case.
Câu cuối cùng của định luật thứ hai này, mang lại một chỉ dẫn căn bản về chu kỳ thời gian: Định luật Điều Thiện Thống Ngự sẽ được đưa vào hoạt động bởi ý chí tinh thần của con người. Điều này hàm ý gì? Nó có nghĩa là chỉ khi nào đa số nhân loại thực sự ở dưới sự kiểm soát của Tam Thượng Thể Tinh Thần, đã kiến tạo được giác tuyến, và nhờ đó có thể vận dụng ý chí tinh thần, lúc đó bệnh tật mới có thể bị xua tan và chỉ còn điều thiện kiểm soát. Dĩ nhiên, đó sẽ là một tiến trình dần dần, và trong những giai đoạn đầu hầu như không thể nhận thấy. Ngoài ra, tại sao xảy ra điều này? Bởi vì tội lỗi xấu xa và bệnh tật là kết quả của đại tà thuyết chia rẽ, và vì thù hận chứ không phải tình thương đang chế ngự. Đừng quên rằng người nào không yêu thương huynh đệ của y, thì là một kẻ sát nhân—luôn luôn là biểu tượng của thù hận. Cho đến nay, ý thức về tính đại đồng và tính đồng nhất với vạn vật vẫn chưa có, ngoại trừ nơi những đệ tử tiến hóa và các điểm đạo đồ. Không nên lầm lẫn ý thức quần chúng và sự thể hiện bản năng bầy đoàn với ý thức về Tính Đơn Nhất, tính chất này đánh dấu con người được định hướng đúng đắn. Trong Kỷ Nguyên Mới, giáo huấn về giác tuyến và sự cấu tạo của con người, chủ yếu từ góc độ “ba thể theo định kỳ” (“three periodical bodies”) chứ không theo góc độ của phàm nhơn tam phân sẽ được nhấn mạnh, nhất là trong các trường học tập cao cấp. Nhờ thế việc đặt một nền tảng vững chắc cho các trường bí giáo sẽ từ từ xuất hiện. Nhờ đó một viễn cảnh mới lên nhân loại sẽ được đạt đến. Bản chất của ý chí tinh thần sẽ được giảng dạy trong sự tương phản với bản chất của ý chí vị kỷ cá nhân.
The final sentence of this second law gives a basic indication of the time period: the Law of Dominating Good will be brought into activity by the spiritual will of man. What does this mean? It means that only when truly large numbers of men are controlled by the Spiritual Triad, have built the antahkarana and can therefore use the spiritual will, can disease be stamped out and only good control. It will of course be a gradual process, and in the early stages almost imperceptible. Again, why is this? Because evil, crime and disease are the result of the great heresy of separateness, and because hate and not love controls. Forget not that he who loveth not his brother is a murderer—ever the symbol of hate. As yet, the sense of universality and of identity with all is not to be found, except in advanced disciples and initiates; the mass consciousness and the demonstration of the herd instinct must not be confounded with the sense of Oneness which marks the right oriented person. In the New Age, teaching anent the antahkarana and the constitution of man, principally from the angle of the “three periodical bodies,” and not so much from that of the lower threefold man, will be emphasised, particularly in the higher schools of learning, thereby laying a sound foundation for the esoteric schools which will be slowly emerging. A new perspective upon humanity will be thereby attained. The nature of the spiritual will will be taught in contradistinction to that of the selfish personal will;
