trạng thái thiêng liêng thứ nhất nơi một người nhờ sự tương tác của nó với bí huyệt đầu. Sự tương tác này chỉ xảy ra khi con người đạt đến giai đoạn đệ tử hoặc điểm đạo đồ.
of the first divine aspect in a man by its interplay with the head centre. This interplay only takes place when the man has reached the stage of disciple or initiate.
b. Điều mỹ kiểm soát, xuyên qua bí huyệt tim, và sự va chạm được mang lại do bí huyệt nhật tùng không đáp ứng. Do đó một tình trạng va chạm được tạo nên. Việc chấm dứt tình trạng này và việc gợi lên sự đáp ứng đúng đắn từ bí huyệt nhật tùng sẽ đến khi các lực của bí huyệt nhật tùng được nâng lên và được trộn lẫn với năng lượng của bí huyệt tim.
b. The beautiful controls, via the heart centre, and friction is brought about by the failure of the solar plexus centre to respond. A condition of friction is therefore set up. The ending of this condition and the evocation of the right response from the solar plexus come when the forces of the solar plexus centre are raised and blended with the energy of the heart centre.
c. Điều chân, như là một sự biểu lộ của Đấng thiêng liêng, có điểm tập trung của nó ở bí huyệt cổ họng. Việc phàm ngã không đáp ứng và không thể biểu lộ điều chân sẽ được thấy trong mối quan hệ giữa bí huyệt xương cùng với bí huyệt cổ họng. Khi thiếu mối quan hệ này, sẽ tạo ra sự va chạm. Sẽ không có sự biểu lộ đích thực của “điều chân”, cho đến khi các mãnh lực của bí huyệt sáng tạo ở dưới cách mô được nâng lên đến bí huyệt sáng tạo ở cổ họng. Chừng đó, “Ngôi Lời” (“the Word”), về bản thể là con người, “sẽ lâm phàm” (“will be made flesh”) và một sự biểu lộ đích thực của linh hồn ở cõi trần sẽ được nhìn thấy.
c. The true, as an expression of the divine, finds its point of centralisation in the throat centre; the failure of the personality to respond, and its inability to express the true, is to be seen in the relation of the sacral centre to the throat centre. This relation, when lacking, produces friction. There will be no real expression of “the true” until the forces of the creative centre below the diaphragm are raised to the creative centre of the throat. Then “the Word,” which is man essentially, “will be made flesh” and a true expression of the soul upon the physical plane will be seen.
2. Linh hồn bị ngăn trở, khi tìm kiếm sự biểu lộ đầy đủ một đặc tính thiêng liêng nào đó, hay một thực tại tinh thần nội tại nào đó, tạo ra một điểm bất đồng trong chất liệu của các thể của nó.
2. The thwarted soul, seeking full expression of some divine characteristic or inner spiritual reality, produces within the substance of its sheaths a point of friction.
Phần lớn của phát biểu này tôi đã nói đến ở trên rồi. Tuy nhiên, tôi muốn các bạn chú ý đến sự kiện là trong câu này sự nhấn mạnh được đặt trên sự kiện là chính linh hồn chịu trách nhiệm cho việc tạo ra sự bất đồng. Khi phân tích câu trước, sự nhấn mạnh được đặt vào phàm ngã do bởi nó không đáp ứng mới tạo nên sự bất đồng và hậu quả là nảy sinh bệnh tật. Trong câu này, liệu chúng ta không thể có manh mối
Much of this statement I have covered above. I would, however, call your attention to the fact that in this sentence the emphasis is laid upon the fact that it is the soul which is responsible for producing the friction. In the analysis of the previous sentence, the emphasis was laid upon the personality, because its failure to respond produced the friction and consequent disease. Is it not possible that in this sentence
