kỷ nguyên T.C. Đó là một qui luật rõ ràng và súc tích, và ngụ ý những gì nên là bản chất của tư duy của nhà trị liệu.
era. It is a clear and concise rule and implies what should be the nature of the healer's thinking.
1. Y phải biết loại tư tưởng đang chi phối bệnh nhân.
1. He must know the type of thought which conditions the patient.
2. Y phải có khả năng thâm nhập tới nguồn gốc của sự khó khăn—hoặc tới bối cảnh tâm lý của nó. Do đó, y phải dùng quyền năng của tư tưởng.
2. He must be able to penetrate to the source of the difficulty, or to its psychological background; therefore, he must use thought power.
3. Y phải có khả năng liên kết nhân và quả. Tác nhân liên kết luôn luôn là thể trí.
3. He must be able to relate cause and effect; the relating agent is ever the mind.
Vào thời Lemuria và Atlantis thuở xưa, thể trí gần như là hoàn toàn bất động và chưa thực sự hoạt động chút nào. Chỉ trong giống dân hiện nay này, bản chất trí tuệ của con người mới đang trở nên có ưu thế, và do đó cách diễn giải mới mẻ và hiện đại về các qui luật này (dựa trên nguyên khí trí tuệ) giờ đây hợp lệ, và chúng ta sẽ tiếp tục bàn đến điều này.
In old Lemuria and Atlantis the mind was practically entirely quiescent and not really functioning at all; it is only in this present race that the mental nature of man is becoming dominant, and therefore the new and modern interpretation of these rules (based on the mind principle) is now in order, and with this we shall proceed to deal.
QUI LUẬT HAI
RULE TWO
Nhà trị liệu phải đạt được sự thanh khiết từ lực nhờ sự thanh khiết của đời sống. Y phải có loại bức xạ xua đuổi vốn tự biểu lộ nơi mỗi người khi y đã liên kết các bí huyệt trong đầu. Khi từ trường này được thiết lập thì bức xạ khi đó phát ra.
The healer must achieve magnetic purity, through purity of life. He must attain that dispelling radiance which shows itself in every man when he has linked the centres in the head. When this magnetic field is established the radiation then goes forth.
Người Đông phương đã từng nhấn mạnh về sự thanh khiết từ lực, nhưng họ hoàn toàn không biết đến sự thanh khiết xác thân theo cái hiểu của người Tây phương. Người Tây phương đã chú trọng đến sự thanh khiết thể xác bên ngoài, nhưng họ không biết gì về sự thanh khiết từ lực. Sự thanh khiết sau này (sự thanh khiết từ lực − ND) phần lớn được căn cứ (một cách hơi sai lầm, dầu không hoàn toàn như thế) vào hiệu quả của sự phát tán hào quang và vào sự thanh khiết hoặc không thanh khiết của nó. Trong qui luật này nhà trị liệu được khuyên:
The East has ever emphasised magnetic purity but has totally ignored physical purity as the Occident understands it; the West has emphasised external physical purity but knows nothing about magnetic purity; this latter is largely based (somewhat erroneously though not entirely so) on the effect of the auric emanation and its purity or non-purity. The healer, in this rule, is advised to:
1. Đạt sự thanh khiết từ lực qua sự thanh khiết của đời sống.
1. Achieve magnetic purity through purity of life.
2. Đạt được một bức xạ xua đuổi, nhờ liên kết các bí huyệt trong đầu.
2. Attain a dispelling radiance through linking the centres in the head.
