2. Cho tiến trình kích thích rõ rệt các bí huyệt của bệnh nhân.
2. For definite processes of stimulation of the patient's centres.
3. Để duy trì một trạng thái quân bình mà trong đó việc chữa trị tự nhiên có thể xảy ra.
3. To preserve a state of equilibrium wherein natural healing can take place.
Trong trường hợp thứ nhất, nhà trị liệu chủ ý tăng thêm uy lực của năng lượng chứa trong bí huyệt của y, sao cho nó trở nên có từ tính cực mạnh và rút ra việc cung cấp quá nhiều năng lượng trong bí huyệt của bệnh nhân. Trong trường hợp thứ nhì, nhà trị liệu phóng một tia năng lượng mạnh mẽ của riêng y vào bí huyệt tương ứng trong cơ thể bệnh nhân; đây là tác động của bức xạ và rất có hiệu quả. Trong trường hợp thứ ba, một sự tương tác được thiết lập để duy trì thế quân bình, và thúc đẩy hoạt động bình thường và ổn định trong bí huyệt chi phối vùng có xáo trộn.
In the first case, the healer deliberately increases the potency of the energy stored in his centre, so that it becomes exceedingly magnetic and abstracts the oversupply of energy in the patient's centre; in the second case, the healer sends a powerful ray of his own energy into the corresponding centre in the patient's body. This is an act of radiation and is very effective; in the third case, an interplay is set up which preserves balance, and furthers steady and normal activity in the centre controlling the area of trouble.
Bạn cũng sẽ lưu ý cách thức mà mọi tiến trình này (và chúng tương đối đơn giản khi được hiểu rõ) đều tùy thuộc vào quyết định của nhà trị liệu. Chính ở đây mà những sự sai lầm có thể được tạo ra, và người nào đang tìm cách làm việc theo những đường lối mà tôi đưa ra nên khôn ngoan tiến hành một cách chậm rãi và cẩn thận đúng mức, cho dù việc trị liệu kém hiệu quả và không thành công. Thà không tạo được hiệu quả nào nơi bệnh nhân và tình trạng của y, còn hơn là do uy lực của sự quyết định thiếu khôn ngoan, năng lực tư tưởng của con người và việc tập trung sự định hướng của con người, để đẩy nhanh cái chết của bệnh nhân bằng cách thình lình thu hồi năng lượng đang cần, hoặc bằng cách kích thích một bí huyệt đã quá bị kích thích và hoạt động quá độ.
You will note also how all these processes (and they are relatively simple when grasped) are dependent upon the decision of the healer. It is here that mistakes can be made, and the man who is seeking to work along the lines I indicate would be well-advised to move slowly and with due caution even at the expense of being ineffectual and unsuccessful. It is better to have no effect upon the patient and his condition than by the potency of one's unwise decision, the power of one's thought and the focus of one's direction, to hasten the patient's death by the sudden abstraction of needed energy or by the stimulation of a centre already overstimulated and overactive.
Xét cho cùng thì mục đích trong ba phương thức giúp bệnh nhân bằng công việc trực tiếp với các bí huyệt có liên quan, là để mang lại một hoạt động lành mạnh và thăng bằng. Mục đích này ở trường hợp một người tiến hóa cao thì dễ đạt hơn ở trường hợp một cá nhân mà nơi họ bí huyệt chưa hoạt động bình thường và chưa được thức tỉnh; và cái khó khăn thường là do hoạt động của một vài bí huyệt phụ nào đó trong 21 bí huyệt phụ ở trong cơ thể, hơn là do hoạt động của một trong bảy bí huyệt chính.
In the last analysis the aim in the three modes of aiding the patient by direct work with the centres involved, is to bring about a balanced and wholesome activity. This is more easily achieved in the case of an advanced person than in the case of the individual in whom the centre is normally inactive and unawakened and where the difficulty is more apt to be due to the action of some of the twenty-one minor centres situated in the body than to that of the seven major
