nếu y có thể hiểu (cùng với nhà trị liệu) sự thực về thiên tính của y—hỡi bạn, ai có thể làm điều đó?—bấy giờ, nếu y có lòng tin vào nhà trị liệu, thì y có thể chắc chắn được chữa lành.
if he can grasp (along with the healer) the fact of his divinity—and who can, my brother?—then if he has faith in the healer, he can assuredly be healed.
Điều đáng chú ý thường để lưu ý là việc thiếu hiểu biết của cả bệnh nhân lẫn nhà trị liệu. Điều đáng phàn nàn là sự giả định của nhà trị liệu rằng, nếu sau đó bệnh được chữa lành, là hoàn toàn do theo đúng các phương pháp trị liệu, trong khi, rất có thể người bệnh sẽ hồi phục trong bất cứ trường hợp nào.
The outstanding thing usually to note is the ignorance of both the patient and the healer; the thing to be deplored is the assumption of the healer that, if a healing does follow, it is due entirely to the healing methods followed, whereas the patient would, in all probability, have recovered in any case.
Việc chữa lành có thể đã được thúc đẩy bằng yếu tố đức tin, và đức tin chỉ là sự tập trung năng lượng của bệnh nhân phù hợp với lời khuyên của nhà trị liệu, và do đó có sự “bộc lộ” năng lượng đó nơi vùng bệnh, tuân theo định luật “năng lượng theo sau tư tưởng”. Sự “bùng nổ” (nếu tôi có thể dùng một từ ngữ sinh động như thế) của năng lượng đức tin nơi hai người có liên quan—nhà trị liệu và bệnh nhân—một cách huyền bí và đôi khi tạo ra sự kích thích năng lượng đủ để đưa tới một sự chữa lành, nơi mà trong bất cứ trường hợp nào việc lành bệnh là chắc chắn. Đó đã chỉ là một tiến trình đẩy nhanh mà thôi. Tuy nhiên, đây không phải là một sự trị liệu huyền bí thực sự, và không có các phương pháp chữa trị huyền bí đích thực nào được dùng hoặc được bao hàm. Về mặt tâm lý, cùng một sự việc có thể được thấy xảy ra trong trường hợp một người “được cải đạo”, theo lối nói của Trường Phái Chính Thống Thiên Chúa giáo. Đức tin của nhân vật và đức tin của nhà truyền bá Phúc Âm, cộng với đức tin của cử tọa (nếu có) mang lại việc chữa trị bằng tâm lý theo đường lối giải quyết các phân cấp, hoặc là tạo ra một sự nhất quán, mặc dù chỉ có một bản chất tạm thời.
The healing may have been hastened by the factor of faith, and faith is simply the focussing of the patient's energy in line with the injunction of the healer, and a consequent “display” of that energy in the diseased area in obedience to the law that “energy follows thought.” The “explosion” (if I may use so forcible a word) of the energy of faith on the part of the two people involved—the healer and the patient—occultly and occasionally produces sufficient energy stimulation to bring about a cure where a cure in any case was inevitable. It has simply been a hastening process. This is not, however, a true occult healing and no true occult healing methods were employed or involved. Psychologically, the same thing can be seen taking place in the case of a “conversion,” as the Fundamentalist School of Christianity calls it. The faith of the person and the faith of the evangelist, plus the faith of the audience (where there is one) bring about a psychological healing along the line of resolving cleavages, or produce an at-one-ment, even if only of a temporary nature.
Phải nhớ rằng trong thế giới được sáng tạo này không có gì trừ ra năng lượng đang hoạt động, và rằng mỗi tư tưởng điều khiển một số trạng thái của năng lượng đó, mặc dầu luôn luôn ở trong phạm vi ảnh hưởng của một năng lượng nào đó vĩ đại hơn, tư duy và chỉ đạo. Sự tin tưởng của cả nhà trị liệu lẫn của bệnh nhân đều là những điển hình của năng lượng đang hoạt động, và hiện nay, thường thường là những năng lượng duy nhất được dùng trong mọi trường hợp
It must be increasingly borne in mind that there is nothing in the created world but energy in motion, and that every thought directs some aspects of that energy, though always within the sphere of influence of some greater thinking, directing energy. The healer's faith and the patient's faith are both examples of energy in motion, and at present usually the only energies employed in every case
