Bức xạ trị liệu được mang lại bằng cách hòa lẫn hai hào quang, cả hai đáp ứng với sự tiếp xúc của linh hồn. Dưới sự kiểm soát của linh hồn, trạng thái linh hồn của cả hai người lúc đó được hướng về một vùng nào đó trong cơ thể bệnh nhân. Việc này tạo ra một hiệu quả rất tốt lên vùng bệnh, và bí huyệt trong cùng khu vực đó được tiếp năng lượng rất nhiều. Công việc của nhà trị liệu trong tiến trình này là công việc cực kỳ yên lặng. Khi đã thực hiện sự tiếp xúc của y, y chỉ việc chờ đợi và không có việc gì nữa để làm, trừ việc duy trì sự chỉnh hợp bền vững với linh hồn và không để cho điều gì quấy rối các thể của phàm ngã của y. Khi đã thực hiện sự giao tiếp với chính linh hồn của mình, và kế đó vươn sang tiếp xúc với linh hồn bệnh nhân, thì công việc của y đã được hoàn thành. Y có thể làm việc đó, vì y biết rằng mọi linh hồn là một: cuối cùng, thuật trị liệu sẽ là một trong các yếu tố điển hình để chứng minh sự thống nhất của mọi linh hồn.
Radiatory healing is brought about by the mingling of the two auras, both of them responsive to soul contact; the soul aspect of both persons (under control of the soul) is then directed towards some area of the patient's physical body. This produces a tremendous effect upon the diseased area, and the centre in that same locality becomes exceedingly energised. The work of the healer during this process is one of intense quiescence. Having made his contact, he simply waits and has nothing more to do but to hold his soul alignment steady and permit nothing to disturb his personality vehicles. His task was accomplished when he made his own soul contact and then reached out and contacted the patient's soul. This he could do because he knows all souls are one: eventually the art of healing will be one of the demonstrating factors in proving the unity of all souls.
Do đó, qui luật này kết luận với các lời: “Linh hồn của bệnh nhân đáp ứng qua sự đáp ứng của hào quang của y với bức xạ của hào quang nhà trị liệu, được tràn ngập với năng lượng linh hồn”. Bởi vậy, đó là một vấn đề về năng lượng linh hồn của cả hai bên, gặp nhau trên cả ba mức độ của ý thức con người. Ở đây sự diễn đạt “linh hồn” ở số ít, vì sự thống nhất (ước gì trong chốc lát) đã được đạt đến. Linh hồn của bệnh nhân nhận thức sự thống nhất này bởi “sự sôi nổi huyền bí” (“occult quickening”) của hào quang của chính y và bởi sự đáp ứng của nó với các bức xạ từ hào quang của nhà trị liệu đang nhập vào. Việc tràn ngập với năng lượng linh hồn này qua trung gian của hào quang được liên kết, tất cả nó, được điều khiển như là một nỗ lực hợp nhất, hướng vào vùng có bệnh trong cơ thể bệnh nhân. Do đó, bạn có thể thấy rằng—một cách hữu thức hay vô thức—công việc trị liệu có thể tiến triển và tạo ra, hoặc chữa lành bệnh, hoặc “đẩy nhanh các nguyên tử đi đến sự giải thoát, bởi sự hướng dẫn của linh hồn”, theo cách gọi của Cổ Luận về thuật từ trần.
This rule, therefore, concludes with the words: “The patient's soul responds through the response of his aura to the radiation of the healer's aura, flooded with soul energy.” It is consequently a question of the soul energy of both parties meeting on all three levels of human awareness. The expression “the soul” is here in the singular because unity (if only for a moment) has been reached. The soul of the patient recognises this unity by the “occult quickening” of his own aura and by its responsiveness to the entering radiations from the healer's aura. This flooding with soul energy through the medium of related auras is, all of it, directed as one unified effort towards the area of disease in the patient's body. You can see, therefore, that-consciously or unconsciously-the work can go forward and produce either healing or that “quickening of atoms which leads by soul direction unto release,” as the Old commentary calls the act of dying.
Khi hiển nhiên là vận số của bệnh nhân là từ trần, thì kỹ thuật của nhà trị liệu có hơi thay đổi.
When it becomes evident that it is the patient's destiny to die, the technique of the healer alters somewhat. He
