làm yếu đi sự kiểm soát của chúng, thì thời kỳ phân ly trở nên càng lúc càng dài, và được đặc trưng bằng một sự sáng tỏ phát triển của tư tưởng và bằng một sự nhận thức về bản thể thiết yếu, và điều này ở trong các giai đoạn lũy tiến. Sự sáng tỏ và sự tiến bộ này có thể không được mang lại vào sự nhận thức hoặc sự biểu lộ đầy đủ khi sự tái sinh lại xảy ra, vì các giới hạn do nhục thể áp đặt quá mức. Tuy nhiên, mỗi kiếp sống nhìn thấy một sự tăng trưởng dần trong tính nhạy cảm, và cũng trong sự tích lũy kiến thức huyền bí, thuật ngữ “huyền bí” (“esoteric”) được dùng để chỉ tất cả những gì không liên quan đến sự sống hình hài bình thường hoặc tâm thức trung bình của con người trong ba cõi thấp.
weaken their hold, the period of dissociation becomes longer and longer, and is characterised by a developing clarity of thought and by a recognition of essential being, and this in progressive stages. This clarity and progress may not be brought through into full realisation or expression when rebirth again takes place, for the limitations imposed by the dense physical body are excessive; nevertheless, each life sees a steady growth in sensitivity, and also the storing up of esoteric information, using the word “esoteric” to signify all that does not concern normal form life or the average consciousness of man in the three worlds.
Nói đại khái, đời sống huyền bí (khi nó phát triển) chia thành ba giai đoạn. Các giai đoạn này diễn ra trong tâm thức của con người và đi song song với nhận thức và các khía cạnh thông thường của sự sống sắc tướng ở ba mức độ kinh nghiệm:
Esoteric living (as it develops) falls into three stages, broadly speaking; these are carried forward within the consciousness of the man and parallel the recognition and ordinary aspects of form life on the three levels of experience:
1. Giai đoạn tiếp nhận các khái niệm, các ý tưởng và các nguyên lý, nhờ đó mà dần dần khẳng định sự tồn tại của thể trí trừu tượng.
1. The stage of reception of concepts, of ideas and of principles, thus gradually asserting the existence of the abstract mind.
2. Giai đoạn “tiếp nhận ánh sáng”, hay thời kỳ mà nhận thức sâu sắc tinh thần (spiritual insight) được phát triển, linh thị được nhìn thấy và được chấp nhận là thực, và trực giác hay “tri giác của thể bồ đề” được khai mở. Điều này mang theo với nó sự khẳng định về sự tồn tại của Thánh Đoàn.
2. The stage of “light reception,” or that period when spiritual insight is developed, when the vision is seen and accepted as true, and when the intuition or “buddhic perception” is unfolded. This carries with it the assertion as to the existence of the Hierarchy.
3. Giai đoạn trừu xuất (rút ra, abstraction), hay thời kỳ mà sự định hướng hoàn toàn được xảy ra, con đường vào Đạo Viện được làm cho rõ ràng, và đệ tử bắt đầu xây dựng giác tuyến giữa phàm ngã với Tam Thượng Thể Tinh Thần. Chính ở giai đoạn này mà bản chất của ý chí được nhìn thấy một cách lờ mờ, mang theo với sự nhận thức nó hàm ý rằng có một “trung tâm nơi mà Thiên Ý được biết đến”.
3. The stage of abstraction, or the period wherein complete orientation is brought about, the way into the Ashram is made clear, and the disciple begins to build the antahkarana between the personality and the Spiritual Triad. It is in this stage that the nature of the will is dimly seen, carrying with its recognition the implication that there is a “centre where the will of God is known.”
