giai đoạn đầu của việc ghi nhận một kiến thức về một lĩnh vực biểu lộ mà họ biết đang tồn tại – lĩnh vực của sự hiểu biết của linh hồn – nhưng cho đến nay đối với họ chưa phải là lĩnh vực biểu lộ bình thường. Về mặt lý thuyết, nhiều người biết rất nhiều về nó, nhưng các hiệu quả thực tế của kiến thức được áp dụng chưa phải là của họ. Nhiều người ý thức về tâm thức, và hiểu biết về giới linh hồn và về phản ứng thỉnh thoảng đối với ấn tượng từ giới đó, nhưng họ chưa phải là chính tâm thức đó, cũng không được đồng nhất hóa với linh hồn đến nỗi ý thức về mọi thứ khác kết thúc đi (drops away). Mục tiêu và đích nhắm của họ là đạt cho được điều đó.
the initial stage of registering an awareness of a field of expression which they know exists—the field of soul awareness—but which is not yet for them their normal field of expression. Many know a great deal about it, theoretically, but the practical effects of applied knowledge are not yet theirs. Many are conscious of consciousness, and are aware of the kingdom of the soul and of an occasional reaction to impression from that kingdom, but they are not yet consciousness itself, nor so identified with the soul that consciousness of all else drops away. To achieve that is their aim and objective.
Hãy để Tôi nhắc nhở bạn rằng sự nghiệp của Chân Thần (một trạng thái năng lượng được tìm thấy trên cung này hoặc cung khác của ba cung chính) có thể được tạm chia thành ba phần, dẫn đến phần thứ tư:
Let me also remind you that the career of the Monad (an aspect of energy found on one or other of the three major rays) can be roughly divided into three parts, leading to a fourth:
1. Một nhận thức thấp về một nhất nguyên (unity) vốn là đơn vị của bản chất hình tướng.Trong nhất nguyên này, linh hồn được đồng nhất hóa mật thiết với trạng thái vật chất đến nỗi nó không thấy sự khác biệt, chỉ là hình tướng và không biết chính nó là linh hồn. Điều này thường đạt đến đỉnh cao của nó trong một kiếp sống nào đó có sự biểu lộ phàm ngã đầy đủ, trong đó linh hồn hoàn toàn được tập trung trong các phản ứng phàm ngã; sự sống thấp mạnh mẽ và sinh động đến nỗi xảy ra một sự biểu hiện mạnh mẽ và thiên về vật chất.
1. A lower realisation of a unity which is the unit of the form nature. In this unity, the soul is so closely identified with the matter aspect that it sees no distinction, but is the form, and knows not itself as soul. This often reaches its height in some life of full personality expression, wherein the soul is completely centred in personality reactions; the lower life is so strong and vital that a powerful and material expression eventuates.
2. Một sự biến phân tiếp theo sau và khó nhọc của ý thức thành một nhị nguyên được nhận thức. Trong tình huống này, con người nhận thức rõ ràng những gì được gọi là nhị nguyên cơ bản của y; y biết y là tinh thần–vật chất, là sắc tướng–sự sống, và là linh hồn đang biểu lộ. Trong giai đoạn này, vốn bao gồm nhiều kiếp sống và đưa con người dọc theo con đường dự bị và con đường đệ tử, đến tận cuộc điểm đạo thứ ba, trung tâm của lực hút (nếu Tôi được phép diễn tả như thế) chuyển dần ra khỏi khía cạnh hình hài và càng ngày càng tập trung nó vào trung tâm của linh hồn. Có một ý thức ngày càng tăng rằng có một
2. A subsequent and painful differentiation of the consciousness into a realised duality. In this condition, the man is distinctly aware of what is termed his essential duality; he knows he is spirit-matter, is form-life, and is the soul in manifestation. During this stage, which covers many lives and carries the man along the path of probation and discipleship as far as the third initiation, the centre of gravity (if I may so express it) shifts steadily out of the form side and centres itself more and more in that of the soul. There is a growing consciousness that there is a
