quan hệ tính dục của chúng ta đã biến mất, và vẻ mỹ lệ và sự thánh-hóa của hôn nhân và của sự biểu lộ của các linh hồn trong hình hài thay thế cho tập hợp các ý tưởng sai lầm hiện nay.
relation have disappeared, and the beauty and consecration of marriage and of the manifestation of souls in form supersede the present wrong grouping of ideas.
Đệ tử và người chí nguyện trên Thánh Đạo, và điểm đạo đồ trên “Con Đường Sáng” của mình, do đó không có đất rèn luyện nào hoàn hảo hơn mối liên hệ hôn nhân, được dùng đúng và hiểu đúng. Việc đưa bản chất động vật vào dưới giới luật nhịp nhàng, việc nâng cao bản chất tình cảm và bản chất bản năng lên bàn thờ hy sinh, và việc hy sinh quên mình cần phải có trong đời sống gia đình là sự thanh luyện phi thường và là các mãnh lực đang phát triển. Sự độc thân cần thiết là sự độc thân của bản thể cao trước các đòi hỏi của bản chất thấp, và việc con người tinh thần từ chối bị chế ngự bởi phàm ngã và các đòi hỏi của xác thân. Thái độ của đời sống độc thân bị áp đặt lên khí cụ của nhiều đệ tử đã dẫn đến nhiều nạn mại dâm và dẫn đến nhiều sự xuyên tạc các chức năng và các khả năng do Trời ban; và thậm chí ở nơi đã không có tình trạng đau buồn này, và ở nơi mà sự sống đã lành mạnh, được thánh thiện và khỏe mạnh, thì nơi đó đã thường chịu đau khổ không đáng, và nhiều đau khổ tâm trí và nhiều giới luật, trước các tư tưởng bất kham và các khuynh hướng có thể được kiểm soát.
The disciple and aspirant upon the Path, and the Initiate upon his “Lighted Way,” have no better training ground therefore than the marriage relation, rightly used and rightly understood. The bringing of the animal nature under rhythmic discipline, the elevation of the emotional and the instinctual natures upon the altar of sacrifice, and the self-abnegation required in the life of the family are tremendous purificatory and developing potencies. The celibacy required is that of the higher nature to the demands of the lower, and the refusal of the spiritual man to be dominated by the personality and the demands of the flesh. The attitude of an imposed celibacy upon the equipment of many a disciple has led to much prostitution and to many perversions of God-given functions and faculties; and even where there has not been this distressing condition, and where the life has been sane, consecrated and sound, there have frequently been undue suffering and much mental distress and disciplining, before unruly thoughts and tendencies could be controlled.
Dĩ nhiên, đúng là đôi khi một người có thể được yêu cầu có một kiếp sống đặc biệt, trong đó y đối diện với vấn đề của tình trạng độc thân, và bị bắt buộc tránh xa tất cả các mối liên hệ vật chất, và phải sống một đời sống độc thân nghiêm nhặt, để chứng minh cho y rằng y có thể kiềm chế khía cạnh động vật và khía cạnh bản năng của bản chất y. Nhưng tình trạng này thường là kết quả của sự thái quá và phóng túng trong một kiếp trước, nó đòi hỏi phải có các mức độ nghiêm nhặt và các tình trạng bất thường để hóa giải và sửa chữa những sai lầm đã qua, và cho phàm ngã thời gian để tự điều chỉnh nó. Nhưng ngoài ra thì nó không là dấu hiệu của sự phát triển tâm linh, đúng hơn là ngược lại. Đừng quên rằng ở đây Tôi đang bàn đến trường hợp đặc biệt về việc độc thân tự áp dụng, chứ không bàn đến
It is of course true that sometimes a man may be called to some particular life wherein he is faced with the problem of celibacy, and is forced to abstain from all physical relations and to live a strictly celibate life, in order to demonstrate to himself that he can control the animal and instinctual side of his nature. But this condition is frequently the result of excess and licence in a previous life, which necessitates stringent measures and abnormal conditions in order to offset and rectify past errors and give the lower nature time to readjust itself. But again it is no indication of spiritual development, rather the reverse. Forget not that here I am dealing with the special case of self-applied celibacy, and not with the present
