Đầu tiên, là sự nỗ lực liên tục, dựa trên một xung lực chủ quan, để tạo ra những hình tướng vốn sẽ biểu lộ một số chân lý được cảm nhận; vì từ đó và qua nỗ lực này, sự chú trọng được liên tục chuyển từ thế giới bề ngoài ở bên ngoài tới khía cạnh bên trong của các hiện tượng. Bằng phương tiện này, một sự tập trung tâm thức được tạo ra vốn cuối cùng trở nên ổn định và được triệt thoái ra khỏi sự ngoại hiện mãnh liệt như hiện nay. Một điểm đạo đồ về cơ bản là một người có cảm giác ý thức bận rộn với các tiếp xúc và tác động chủ quan chứ không phải chủ yếu bận tâm với thế giới của các tri giác của giác quan bên ngoài. Mối quan tâm được vun bồi này vào thế giới ý nghĩa ở bên trong sẽ tạo ra không chỉ một hiệu quả rõ rệt trên chính người tìm kiếm tâm linh mà cuối cùng sẽ mang lại sự chú trọng, được nhận thức trong tâm thức não bộ của nhân loại, rằng thế giới ý nghĩa là thế giới duy nhất của thực tại đối với nhân loại. Sự nhận thức này, đến lượt nó, sẽ mang lại hai hiệu ứng sau:
First, the constant effort, based on a subjective impulse, to create those forms which will express some sensed truth; for thereby and through this effort, the emphasis is constantly shifted from the outer world of seeming to the inner side of phenomena. By this means, a focussing of consciousness is produced which eventually becomes stable and withdrawn from its present intense exteriorisation. An initiate is essentially one whose sense of awareness is occupied with subjective contacts and impacts and is not predominantly preoccupied with the world of outer sense perceptions. This cultivated interest in the inner world of meaning will produce not only a pronounced effect upon the spiritual seeker himself but will eventually bring about the emphasis, recognised in the brain consciousness of the race, that the world of meaning is the sole world of reality for humanity. This realisation will, in its turn, bring about two subsequent effects:
1. Một sự thích ứng mật thiết của hình tướng với các yếu tố quan trọng đã mang nó vào hiện tồn trên cõi bên ngoài.
1. A close adaptation of the form to the significant factors which have brought it into being on the outer plane.
2. Việc tạo ra một vẻ đẹp đích thực hơn trên thế giới và, do đó, một sự xấp xỉ gần hơn trong thế giới của các hình tướng được tạo ra với chân lý xuất hiện bên trong. Có thể nói rằng thiên tính được che đậy và giấu kín trong sự đa dạng của các hình tướng với chi tiết vô hạn của chúng, và trong sự đơn giản của những hình tướng mà cuối cùng sẽ được thấy, chúng ta sẽ đi đến một vẻ đẹp mới hơn, ý thức lớn hơn về chân lý, và tới sự mặc khải về ý nghĩa và mục đích của Thượng Đế trong mọi sự mà Ngài đã thực hiện từ thời đại này đến thời đại khác.
2. The production of a truer beauty in the world and, therefore, a closer approximation in the world of created forms to the inner emerging truth. It might be said that divinity is veiled and hidden in the multiplicity of forms with their infinite detail, and that in the simplicity of forms which eventually will be seen, we shall arrive at a newer beauty, a greater sense of truth and at the revelation of God's meaning and purpose in all that He has accomplished from age to age.
Thứ hai, nỗ lực liên tục để làm cho con người nhạy cảm với thế giới của các thực tại đầy ý nghĩa và do đó, tạo ra những hình tướng trên cõi bên ngoài sẽ hoạt động đúng với xung lực ẩn giấu. Điều này được mang lại bởi sự trau dồi trí tưởng tượng sáng tạo. Cho đến nay, nhân loại ít biết về
Secondly, the constant effort to render oneself sensitive to the world of significant realities and to produce, therefore, those forms on the outer plane which will run true to the hidden impulse. This is brought about by the cultivation of the creative imagination. As yet, humanity knows little about
