“đang chi phối” (“conditioning”) được sử dụng ở đây khá thường xuyên vì sự thích hợp của cụm từ để biểu thị chức năng. Những linh hồn này, vì mức độ tiến hóa của họ, vì giai đoạn khai mở của họ, và vì tính dễ ảnh hưởng của họ với ý tưởng tập thể và với Thiên Cơ, có thể đi vào luân hồi và bắt đầu, nhiều hoặc ít, thể hiện Thiên Cơ đó và gợi lên một sự đáp ứng với nó trong tâm thức con người. Như vậy họ ở một vị trí “dọn đường cho sự tái lâm của Đức Christ.” Điều sau này là một cụm từ mang tính biểu tượng cho thấy một mức độ nhất định của văn hóa tinh thần trong nhân loại. Đôi khi họ lờ mờ ý thức về công việc kỳ diệu này, nhưng trong phần lớn các trường hợp, họ hoàn toàn không ý thức về vận mệnh “định chuẩn” (“qualifying”) của họ. Là những linh hồn, dưới sự hướng dẫn của Thánh Đoàn và trước khi lâm phàm, họ có ý thức về sự thôi thúc “đi vào và giúp đỡ hành tinh phiền não và do đó giải phóng các tù nhân bị giữ trong nhà tù gian khổ bởi ham muốn thấp kém” (trích dẫn từ Kinh Cựu Ước), nhưng một khi bộ áo ngoài bằng xác thịt đã được khoác lấy, ý thức cũng chết dần, và trong bộ não vật chất, họ không nhận thức những gì mà linh hồn của họ đã có ý định. Chỉ có sự thôi thúc đối với các hoạt động cụ thể vẫn còn. Công việc tuy thế vẫn tiến hành.
“conditioning” are here used quite frequently because of the aptness of the phrase to indicate function. These souls, because of their point in evolution, because of their stage in unfoldment and because of their impressibility to the group idea and to the Plan, can come into incarnation and begin, more or less, to work out that Plan and evoke a response to it in the human consciousness. They are thus in a position to “prepare the way for the coming of the Lord.” This latter is a symbolic phrase indicating a certain level of spiritual culture in humanity. They are sometimes dimly conscious of this stupendous task, but they are, in the majority of cases, quite unconscious of their “qualifying” destiny. As souls, under the guidance of the Hierarchy and prior to incarnation, they are conscious of the impulse to “go in and help the sorrowing planet and thus release the prisoners held in durance hard by low desire” (quoting from the Old Commentary), but once the garment of flesh has been assumed, that consciousness too dies out and in the physical brain they are not aware of that which their souls have purposed. Only the urge for specific activities remains. The work nevertheless proceeds.
Một vài linh hồn đi vào luân hồi theo ý chí và ý muốn tự do của riêng họ; họ hoạt động với sự hiểu biết rõ ràng và tiến hành nhiệm vụ trong ngày. Họ là những người chủ chốt trong bất kỳ thời đại nào, và là các nhân tố quyết định, về tâm lý, trong bất kỳ giai đoạn lịch sử nào. Chính họ thiết lập nhịp độ tiến triển và làm công việc tiên phong. Họ tập trung vào bản thân họ cả sự thù ghét và tình yêu của thế giới; họ hoạt động như các nhà Kiến Tạo hoặc như các nhân vật Hủy Diệt, và cuối cùng họ trở lại vị trí riêng của họ, mang theo với họ những chiến lợi phẩm dưới dạng của sự tự do mà họ đã giành cho chính họ hoặc cho người khác. Họ chịu đựng những vết sẹo, nói về mặt tâm lý, đã được đưa ra cho họ bởi những đối thủ, và họ cũng được sự bảo đảm
A few souls come into incarnation of their own free will and accord; they work with clear knowledge and proceed to the task of the day. They are the key people in any age, and the determining factors, psychologically, in any historical period. It is they who set the pace and do the pioneering work. They focus in themselves both the hatred and the love of the world; they work as the Builders or as the Destroyers, and they return eventually to their own place, carrying with them the spoils of victory in the shape of the freedom which they have won for themselves or for others. They bear the scars, psychologically speaking, which have been given to them by opposing workers, and they bear also the assurance
