phi thường và siêu hạng này, bị buộc quay lại vào việc sử dụng các phủ định, và cái gọi là “học thuyết phủ định”. Chỉ bằng cách chỉ ra những gì mà trạng thái hay tình trạng nhận thức này không phải là, thì bất kỳ ý tưởng nào đó cũng có thể được truyền đạt điều mà nó thực chất là. Do đó, những phủ định được gặp như thế (và thường bị hiểu lầm bởi độc giả phương Tây) đều là kết quả của sự vô ích và bất cập của ngôn ngữ để diễn tả Thực Tại được biết đến khi đó.
supernormal and superlative condition, are forced back into the use of negatives, and the so-called “doctrine of negation”. Only by indicating what this state or condition of awareness is not, can any idea be conveyed of what it essentially is. The negations thus met with (and frequently misunderstood by the occidental reader) are, therefore, the result of the futility and inadequacy of language to express the Reality then known.
Sau khi đã nhận được các cuộc điểm đạo lớn, trạng thái tâm thức của vị cao đồ giác ngộ và được giải thoát ở trình độ mà ngôn ngữ chỉ dùng cho sự hiểu biết mù quáng và cản trở sự hiểu biết thật sự. Tâm thức của điểm đạo đồ có một bản chất rất cao cả đến nỗi nó chỉ có thể được mô tả dưới dạng sự giải thoát, sự phủ định, và qua sự nhấn mạnh về điều mà nó không phải là. Đó là một trạng thái của Phi-sự vật (No-thing) và Phi-bản ngã (Non-ego), vì mọi nhận thức của Chân Ngã được thay thế bằng một trạng thái của Bản Thể và của tâm thức vốn chỉ có khả năng lĩnh hội và biểu lộ khi sự sống hình tướng không có công dụng gì thêm cho sự sống tinh thần đã hoàn thiện. Đó là một trạng thái Phi-cá tính (non-individuality), nhưng với kiến thức thuộc tiềm thức và những thành tựu của kinh nghiệm cá nhân. Trung tâm tâm thức bị loại bỏ khỏi bất kỳ bản sắc cá nhân riêng biệt đến nỗi yếu tố đặc biệt đó đã bị mờ đi hoàn toàn, và chỉ có sự sống đại thiên địa được nhận thức về mặt tri giác. Đó là một trạng thái của bất hoạt động ra khỏi góc độ của tầm nhìn hiện tại của chúng ta, bởi vì mọi phản ứng cá nhân đối với hoạt động vật chất hoặc đối với trạng thái hiện tồn mà chúng ta gọi là vị ngã (egoic), đã giảm đi, và Sự Sống và Thể Trí không còn có thể bị cuốn vào hoạt động bởi bất kỳ yếu tố nào mà cho đến nay đã tạo ra những gì mà chúng ta đã gọi là hoạt động linh hồn và sự sống hình tướng.
After the major initiations are undergone, the state of consciousness of the illumined and liberated adept is such that language serves only to blind and to hinder true understanding. The consciousness of the initiate is of so lofty a nature that it can only be described in terms of release, of negation, and through the emphasis of that which it is not. It is a state of No-thing and Non-ego, for all egoic awareness is superseded by a state of Being and of consciousness which is only capable of comprehension and expression when form life is of no further use to the perfected spiritual life. It is a state of non-individuality, yet with the subconscious knowledge and gains of the individual experience. The centre of consciousness is so far removed from any individual separate identity that that particular factor has faded entirely out, and only the macrocosmic life is sentiently realised. It is a state of nonactivity from our present angle of vision, because all individual reactions to the activity of matter or to that state of being which we call egoic, have dropped away, and Life and Mind can no longer be swept into motion by any of the factors which have hitherto produced what we have called soul activity and form existence.
Tuy nhiên, mặc dù tâm thức khác hơn so với tất cả những gì đã được biết đến cho đến nay, và mặc dù nó chỉ có thể được biểu lộ dưới dạng phủ định, phải liên tục ghi nhớ sự thật là nhận thức lớn hơn phải luôn luôn bao gồm
Nevertheless, though the consciousness is other than all that has been hitherto known, and though it can only be expressed in terms of negation, the truth must be borne constantly in mind that the greater awareness must always include
