và ảo cảm của những tư tưởng riêng của y. Thật kỳ lạ, có một mối quan hệ mật thiết giữa cung ba và cung sáu, giống như có mối quan hệ giữa cung một và cung hai, và cung hai và cung bốn. Các cung bốn, năm, sáu và bảy không có những mối quan hệ song song như vậy. 1 cộng 1 bằng 2, 2 cộng 2 bằng 4, 3 cộng 3 bằng 6. Có một dòng năng lượng đặc biệt chảy giữa các cặp cung này, vốn bảo đảm sự chú ý của các đệ tử nào đang trở nên có ý thức về mối quan hệ của chúng. Mối quan hệ này và sự tương tác chỉ trở nên tích cực ở một giai đoạn tiến hóa tương đối cao.
and the glamour of his own thoughts. Curiously enough, there is a close relation between the third and the sixth rays, just as there is between the first and the second rays, and the second and the fourth. The fourth, fifth, sixth and seventh rays have no such paralleling relations. 1 added to 1 equals 2, 2 added to 2 equals 4, 3 added to 3 equals 6. Between these pairs of rays there is a line of special energy flowing which warrants the attention of disciples who are becoming conscious of their relationships. This relation and interplay only becomes active at a relatively high stage of evolution.
Do đó, vấn đề của những người chí nguyện cung sáu là tự tách y ra khỏi sự nô lệ hình tướng (mặc dù không phải là ra khỏi hình tướng) và đứng lặng lẽ ở trung tâm, giống như đệ tử cung ba phải học cách để làm. Ở đó, y học hỏi về độ rộng của tầm nhìn và một ý thức đúng về tỷ lệ. Y luôn thiếu hai tính chất này cho đến khi y có thể tuyên bố quan điểm của y và tự chỉnh hợp y ở đó với mọi tầm nhìn, mọi hình thức chân lý, mọi giấc mơ về thực tại, và tìm thấy đằng sau tất cả chúng − Thượng Đế và đồng loại của y. Bấy giờ, và chỉ bấy giờ y mới có thể được tin cậy để làm việc với Thiên Cơ.
The problem, therefore, of the sixth ray aspirant is to divorce himself from the thralldom of form (though not from form) and to stand quietly at the centre, just as the third ray disciple has to learn to do. There he learns breadth of vision and a right sense of proportion. These two qualities he always lacks until the time comes when he can take his stand and there align himself with all visions, all forms of truth, all dreams of reality, and find behind them all—God and his fellow men. Then and only then can he be trusted to work with the Plan.
Sự chỉnh hợp được gợi lên bởi “bức tranh tĩnh vật yên bình” này một cách tự nhiên tạo ra một cuộc khủng hoảng, và như thường lệ, đó là một cuộc khủng hoảng khó khăn nhất cho người chí nguyện giải quyết. Đó là một cuộc khủng hoảng có vẻ như để cho y thiếu sự khích lệ, thiếu động cơ, thiếu khả năng cảm thụ, thiếu sự đánh giá cao bởi những người khác và thiếu mục đích sống. Ý tưởng về “chân lý của tôi, sư phụ của tôi, ý tưởng của tôi, con đường của tôi” rời khỏi y và cho đến nay y không có gì để chiếm vị trí của nó. Là cung sáu, và do đó được liên kết với thế giới của đời sống tâm thông cảm dục, là cõi thứ sáu, y nhạy cảm đặc biệt với những phản ứng của riêng y và với những ý tưởng của người khác, khi y và các chân lý của y có liên quan. Y có cảm giác là một kẻ ngốc và cho rằng những người khác đang nghĩ y như vậy. Do đó, cuộc khủng hoảng thật là trầm trọng, vì nó phải tạo ra một sự điều chỉnh hoàn toàn của Chân Ngã (Self) đối với phàm ngã (self). Sự cuồng tín của y, sự sùng tín của y, sự
The alignment evoked by this “peaceful standing still” naturally produces a crisis and it is, as usual, a most difficult one for the aspirant to handle. It is a crisis which seems to leave him destitute of incentive, of motive, of sensation, of appreciation by others and of life purpose. The idea of “my truth, my master, my idea, my way” leaves him and as yet he has nothing to take its place. Being sixth ray, and therefore linked with the world of astral psychic life, the sixth plane, he is peculiarly sensitive to his own reactions and to the ideas of others where he and his truths are concerned. He feels a fool and considers that others are thinking him so. The crisis therefore is severe, for it has to produce a complete readjustment of the Self to the self. His fanaticism, his devotion, his
