đề cập đến sinh vật có tổ chức hoàn chỉnh mà con người có thể cảm thấy và biết y là một phần trong đó. Từ ngữ “sự thống nhất” diễn tả mối quan hệ của y với tổng thể. Do đó, sẽ hiển nhiên là tổng thể này là một cái gì đó dần dần được nhận ra. Đối với việc mang lại sự nhận thức phát triển này những sự mở rộng tâm thức lớn, được gọi là những cuộc điểm đạo, đã được tạm sắp xếp như là một tiến trình đẩy nhanh hoặc bắt buộc. Sự phát triển “những sự biệt lập trong thống nhất” được nhận thức có thể bắt đầu với nhóm, môi trường hay quốc gia của người đệ tử, và, nhờ sử dụng đúng đắn sự hiểu biết, sẽ kết thúc bằng cách cho phép y biệt lập toàn bộ hệ thống thiêng liêng hoặc cấu trúc sinh động, và tự đồng nhất hóa y với nó theo một cách có khả năng tích cực.
refers to that complete organised organism of which the man can feel and know himself to be a part. The word “unity” expresses his relationship to the whole. It will be apparent therefore that this whole is something progressively realised. For the bringing about of this progressed realisation the great expansions of consciousness, called initiations, have been temporarily arranged as a hastening or forcing process. This progression of realised “isolations in unity” may begin with the disciple's group, environment or nation and, through right use of the understanding, will end by enabling him to isolate the whole divine scheme or living structure, and to identify himself with it in an active capable manner.
Kết quả của việc thiền định về chủ đề này sẽ là:
The result of meditation upon this theme will be:
1. Một sự khai sáng thể trí rõ rệt, vì bấy giờ nó sẽ đồng nhất với Toàn Trí (Universal Mind) và mọi cách của Thượng Đế và mọi kế hoạch của Thượng Đế sẽ được tiết lộ cho y.
1. A definite illumination of the mind, for it will then be at-one with the Universal Mind and all the ways of God and the plans of God will stand revealed to him.
2. Trí tưởng tượng sáng tạo sẽ được gợi lên mạnh mẽ để đáp ứng với sự mặc khải này, và các phương cách và phương pháp hợp tác sẽ được phát triển một cách có tri giác (sentiently) và đệ tử sẽ trở thành một người hợp tác sáng tạo chứ không chỉ là một người đầy tớ tuân theo Thiên Cơ.
2. The creative imagination will be powerfully evoked in response to this revelation, and modes and methods of cooperation will be sentiently developed and the disciple will become a creative cooperator and not just an obedient servant of the Plan.
3. Cuộc sống của y khi đó sẽ được truyền cảm hứng bởi sự mong muốn phụng sự nhân loại và hợp tác với Những Đấng Trông Coi Thiên Cơ. Điều này sẽ mang lại khuynh hướng đầy đủ của sự sống linh hồn, tạm thời tạo ra một cuộc xung đột dữ dội giữa cung phàm ngã và cung linh hồn, nhưng cũng tạo ra một sự lệ thuộc đều đặn của cái thấp đối với cái cao, của cái nhỏ đối với cái lớn.
3. His life will be then inspired by the desire to serve humanity and to cooperate with the Custodians of the Plan. This will bring in the full tide of soul life, producing temporarily a violent conflict between the personality ray and the soul ray, but also producing a steady subordination of the lower to the higher, of the minor to the major.
Tôi không thể kêu gọi quá mạnh mẽ sự chú ý của bạn rằng ở đây tôi không bàn về việc phụng sự bình thường và sự hợp tác miễn cưỡng của người chí nguyện − một sự hợp tác dựa trên lý thuyết và một sự quyết tâm để chứng minh lý thuyết, và kế hoạch, và việc phụng sự
I cannot too strongly call to your attention that I am not here dealing with the normal service and the self-enforced cooperation of the aspirant—a cooperation based upon theory and a determination to prove theory and plan and service to
