của Thánh Đạo cũng hiểu rõ các kế hoạch, các mục đích và ý tưởng được vật chất hóa của Thượng Đế. Đây chí là một nỗ lực yếu ớt trong sự cố gắng của tôi để cho thấy sự rộng lớn của kiến thức cần thiết khi một người bắt đầu sử dụng ba tư tưởng hạt giống này trong khi thiền định. Cấu trúc sinh động khi nó thể hiện những ý tưởng, vẻ đẹp phức tạp của các mối quan hệ bên trong trong Tổng Thể biểu lộ, sự lưu chuyển năng lượng vốn đang thể hiện Ý Tưởng thiêng liêng, các điểm lực và các điểm năng lượng cục bộ vốn tác động như các trạm điện và ánh sáng trong Tổng Thể đó − tất cả những điều này được tiết lộ cho người nào được phép, với tư cách là một linh hồn, thiền định về một cụm từ như là lý trí bao gồm.
stages of the Path also grasps the plans, purposes and materialised ideas of God. This is but a feeble effort in my attempt to show the vastness of the knowledge required when a man begins to use these three seed thoughts in meditation. The living structure as it expresses ideas, the intricate beauty of the inner relationships within the expressing Whole, the circulation of the energy which is working out the divine Idea, the points of force and local points of energy which act as power and light stations within that Whole—all these stand revealed to the man who is permitted, as a soul, to meditate upon such a phrase as inclusive reason.
Lý trí (reason) được đề cập ở đây là sự hiểu biết trực giác thuần khiết không thể sai lầm vốn hiểu rõ nhân và quả cùng một lúc, và thấy tại sao, và do đâu, và cho điều gì để kết thúc tất cả mọi thứ đang chuyển động. Người chí nguyện không thể đem những từ ngữ này vào việc thiền định của y và có lợi ích nhiều từ đó, vì y sẽ thiền định như một thể trí đầy tham vọng, chứ không phải như là một linh hồn. Do đó, bất kể nỗ lực của y lớn thế nào, sẽ chính là khía cạnh và mô hình vật chất nhiều hơn là khía cạnh và mô hình tâm thức vốn sẽ thu hút sự chú ý của y. Khi y đã đạt đến điểm mà y có thể thiền định vừa như là một linh hồn và vừa như là một thể trí, cũng bao hàm luôn phản ứng của não bộ, bấy giờ y sẽ hiểu được mục đích của những từ ngữ này, và sẽ xem xét cả biểu tượng, cấu trúc sinh động bên trong, và những ý tưởng hữu thức xuất hiện với một sự hiểu biết tổng hợp và một sự đồng thời tiếp nhận mà tôi không thể viết thành lời.
The reason here referred to is that pure intuitional infallible comprehension which grasps cause and effect simultaneously, and sees why and whence and to what end all things are moving. It is not possible for the aspirant to take these words into his meditation and profit greatly thereby, for he will be meditating as an aspiring mind, and not as a soul. No matter, therefore, how great his effort, it will be the material more than the consciousness aspect and pattern which will engross his attention. When he has reached the point where he can meditate both as a soul and as a mind, involving also the brain reaction, then he will understand the purpose of these words and will view both the symbol, the inner living structure and the emerging conscious ideas with a synthetic comprehension and a simultaneity of reception which it is impossible for me to put into words.
Ở đây rất có thể bạn hỏi tôi về lợi ích gì cho tôi lúc bấy giờ để viết tất cả những điều này, và để nói nhiều điều mà tôi đã nói trong Bộ Luận này. Tôi sẽ trả lời: Có một ít ngày nay, và sẽ có một số lượng ngày càng tăng trong hai thập kỷ tới, những người − hiểu rõ vẻ đẹp của ý tưởng được đưa ra − sẽ được linh hồn của họ thúc giục để hoạt động hướng tới những mục tiêu này. Bằng cách làm như vậy,
You might well ask me here of what profit is it then for me to write these things at all, and to say much that I have said in this Treatise. I would reply: There are a few today, and there will be an increasing number in the next two decades, who—grasping the beauty of the presented idea—will be urged by their souls to work towards these ends. By so doing,
