người nào trong cảnh nô lệ có thể dẫn đến các tình trạng nghiêm trọng như tự tử, bệnh tật kéo dài hoặc một cuộc sống thành vô ích do sự thất vọng có thể gây ra.
man in bondage can result in such serious conditions that suicide, prolonged illness or a life rendered futile through frustration can eventuate.
Chỉ có hai điều thực sự có thể trợ giúp:
Only two things can really help:
Thứ nhất, việc trình bày một cách ổn định và từ ái về một tầm nhìn rộng lớn hơn phải được duy trì trước mắt của người này bởi một người nào đó rất bao dung, đến nỗi sự hiểu biết là chủ âm của cuộc đời y, hoặc, thứ hai, bằng tác động của chính linh hồn của một người. Phương pháp đầu tiên phải mất nhiều thời gian và sự nhẫn nại. Phương pháp thứ hai có thể có hiệu quả tức thời, như trong sự chuyển hóa, hoặc nó có thể là một sự phá vỡ dần các bức tường tư tưởng mà nhờ đó một người đã tách mình khỏi phần còn lại của thế giới và đồng loại của y. Những tiếng kèn của vị Chúa Tể, là linh hồn, có thể phát ra và khiến cho các bức tường của Jericho sụp đổ. Công việc kêu gọi hành động của linh hồn của một nhân vật năng động thay mặt cho một phàm ngã bị giam cầm, bị bao quanh một cách vững chắc bởi một bức tường bằng chất trí, sẽ tạo thành một phần của khoa học tâm lý mà tương lai sẽ thấy được phát triển.
First, the steady, loving presentation of a wider vision, which must be held before the man's eyes by some one who is so inclusive that understanding is the keynote of his life, or, secondly, by the action of a man's own soul. The first method takes much time and patience. The second method may be instantaneous in its effects, as in conversion, or it may be a gradual breaking down of the walls of thought by means of which a man has separated himself off from the rest of the world and from his fellowmen. The trumpets of the Lord, the soul, can sound forth and cause the walls of Jericho to fall. This task of evoking soul action of a dynamic character on behalf of an imprisoned personality, impregnably surrounded by a wall of mental matter, will constitute a part of the science of psychology which the future will see developed.
Các vấn đề phát sinh từ việc thiền định, và các kết quả của nó: Sự Giác Ngộ.
Problems arising from meditation, and its result: Illumination.
Trước hết, tôi muốn chỉ ra rằng khi tôi sử dụng từ ngữ tham thiền (meditation) ở chỗ này, tôi đang sử dụng nó chỉ trong một trong những hàm ý của nó. Việc tập trung trí tuệ mãnh liệt, tạo ra sự quá chú trọng về trí tuệ, những thái độ sai lầm và cách sống cách biệt xã hội, cũng là một hình thức thiền định, nhưng đó là việc thiền định được chuyển hoàn toàn vào trong vùng ngoại vi của khu vực nhỏ của thể trí một con người cụ thể. Đây là một phát biểu thực tế và quan trọng. Điều này hạn chế y và xóa đi mọi liên lạc với các lĩnh vực khác của sự nhận thức trí tuệ và gây ra một sự kích thích trí tuệ có tính nhất tâm mãnh liệt thuộc một loại đặc biệt mạnh mẽ, và không có lối thoát, ngoại trừ hướng tới não bộ, xuyên qua bản chất ham muốn. Sự Tham Thiền mà chúng ta sẽ đề cập trong phần này của nghiên cứu của chúng ta liên quan đến một sự tập trung và thái độ trí tuệ vốn cố gắng để
I would like first of all to point out that when I use the word meditation in this place I am using it in only one of its connotations. The intense mental focussing, producing undue mental emphasis, wrong attitudes and anti-social living, is also a form of meditation, but it is meditation carried forward entirely within the periphery of the small area of a particular man's mind. This is a statement of fact and of importance. This restricts him and leaves out all contact with other areas of mental perception and induces an intense one-pointed mental stimulation of a particularly powerful kind, and which has no outlet except towards the brain, via the desire nature. The meditation to which we shall refer in this part of our study relates to a mental focussing and attitude which attempts to
